“Lỗ hổng” trong sử dụng thiết bị dạy học Ngoại ngữ

Giáo viên lắp được trang thiết bị thì sắp… hết tiết học, nhiều trường có thiết bị dạy học Ngoại ngữ nhưng “đắp chiếu” trong kho không sử dụng đến.

Cùng với năng lực GV, thiết bị dạy học (TTDH) là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc thực hiện đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020. Thế nhưng việc mua sắm và sử dụng TBDH dạy học Ngoại ngữ đến nay vẫn đang có nhiều vấn đề bất cập đến khó ngờ. Điều này được đề cập tại Hội thảo “Tư vấn mua sắm và tập huấn sử dụng thiết bị dạy học Ngoại ngữ” do Ban đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020, Bộ GD-ĐT tổ chức tại TPHCM ngày 23/8.

Ông Phạm Ngọc Phương, Phó cục trưởng Cục cơ sở vật chất và thiết bị trường học, đồ chơi trẻ em (Bộ GD-ĐT) cho biết, khi đi khảo sát một số nơi đã gặp tình huống giáo viên (GV) lắp xong được TBDH đã hết 30 phút, chỉ còn 15 phút để dạy học, nhiều TBDH nằm “đắp chiếu” trong kho như trường hợp tại một trường THPT ở Hà Tiên (Kiên Giang), hiệu trưởng mua TBDH về rồi khóa trong phòng,không cho sử dụng vì… sợ hỏng. Nhiều GV phàn nàn hiệu trưởng mua nhiều loại trang thiết bị họ không dùng được.

 
 
                                            DSC_8125
                  Phòng học Ngoại ngữ tại trường Tiểu học Hùng Vương – Vĩnh phúc

Theo ông Phương, nguyên nhân là do người mua ít quan tâm đến ý kiến, tâm tư của người sử dụng. “Mục tiêu có, hàng hóa có, tiền có nên chúng ta cần xác định mình mua cái gì, mua làm sao, mua thế nào để sử dụng được. Đừng để sau năm 2020trình độ Ngoại ngữ của con em lại… như chúng ta hồi trước”, ông Phương nhấn mạnh.

Ông Phương hóm hỉnh nói rằng, hai điều kiện Đề án Ngoại ngữ 2020 đặt ra là GV và phòng học cần bổ sung thêm điều kiện ý thức của lãnh đạo. Hiện nay, Bộ giao quyền tự chủ cho địa phương trong việc mua sắm TBDH dạy học Ngoại ngữ nên vai trò của giám đốc Sở GD-ĐT cực kỳ quan trọng.

Nói về tình trạng TBDH dạy học Ngoại ngữ “đắp chiếu”, một đại biểu trong Ban đề án phân tích: “Có tình trạng như vậy là do chúng ta chưa rà soát năng lực của GV, điều kiện thực tế trước khi mua trang thiết bị”.

Tính đến hết năm 2011, Hà Nội có 245/1.556 (16%) trường được đầu tư trang thiết bị phòng dạy học môn Ngoại ngữ. Kế hoạch năm 2012 sẽ đầu tư thêm 431 phòng ngoại ngữ, nâng tổng số trường có phòng học Ngoại ngữ lên 676.

Tuy vậy, ông Nguyễn Như Hòa, Phó Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính Sở GD-ĐT Hà Nội bày tỏ, một trong những khó khăn hiện nay là một số cán bộ chuyên trách quản lý, sử dụng TBDH chưa qua đào tạo cơ bản nên còn yếu về chuyên môn, dẫn đến hiệu quả sử dụng TBDH bị hạn chế.

PGS.TS Trần Văn Ân (Trường ĐH Vinh) cho rằng, các nguồn vốn dự án đầu tư TBDH dạy học Ngoại ngữ thường phân bổ chậm ảnh hưởng đến thực hiện dự án tài chính. Ngoài ra, có tình trạng từ ngày đề xuất mua sắm đến khi thực hiện thời gian dài nên nhiều model thiết bị đã lạc hậu, giá cả lại biến động ảnh hưởng đến việc mua sắm.

 

Nhiều đại biểu ý kiến về việc trang thiết bị nằm kho có thể do bị hư hỏng, tạm thời chưa được sửa chữa do kinh phí sữa chữa còn hạn chế.

Bà Trần Thị Tuyết (Trường THPT Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Nội) đánh giá công năng sử dụng TBDH tại nhiều trường THPT còn thấp do GV chưa được tập huấnkỹ càng. Ngoài ra học sinh chưa có ý thức giữ gìn nên ảnh hưởng đến chất lượng giờ học và độ bền của TBDH. TBDH phải đem sữa chữa nên nguồn bổ sung chậm.

Ông Phạm Ngọc Phương góp ý, bên cạnh việc lãnh đạo phải chú ý đến đối tượng sử dụng khi mua TBDH thì cần đầu tư bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho GV và học sinh trong việc khai thác và sử dụng TBDH khi tổ chức giờ học trên lớp.

Sau thời khai giảng năm học mới 2012 – 2013, Bộ GD-ĐT sẽ tiến hành kiểm tra việc mua sắm và sử dụng TBDH Ngoại ngữ tại các địa phương.

Theo Tin mới.

Sách giáo khoa điện tử: những khúc mắc

12 bộ sách giáo khoa (SGK) điện tử được khóa cứng trong máy tính bảng mang tên Classbook do NXB Giáo Dục độc quyền bán với giá 4,8 triệu đồng đang là vấn đề dư luận quan tâm, đặc biệt với những người hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, xuất bản và thiết bị trường học.

Các chuyên gia lĩnh vực này cho rằng việc SGK điện tử gắn chặt với thiết bị đọc sách của NXB Giáo Dục là đi ngược lại tinh thần phổ biến SGK rộng rãi và mất đi tính tốt đẹp của chủ trương số hóa SGK cũng như các xuất bản phẩm điện tử.

20140418_pg4

Không theo thông lệ

“Con út của tôi học lớp 10. Rất muốn mua máy, nhưng cứ nghĩ số tiền chi trả gộp cho cả sách từ lớp 1 đến lớp 9 mà con không cần dùng nữa, tôi thấy lãng phí”

Chị Vũ Mai Anh
(Cầu Giấy, Hà Nội)

Ông Hà Thân, tổng giám đốc Công ty phần mềm Lạc Việt, cho rằng việc gắn chặt sách với thiết bị để ngăn ngừa ăn cắp nội dung sách là một cách làm không giống thông lệ các nước và các hãng công nghệ lớn đang làm. Ở các nước, luật bản quyền rất chặt chẽ và bộ giáo dục chỉ đưa ra khung chương trình, còn nội dung SGK sẽ do các giáo viên giỏi viết và bán với những mức giá khác nhau, người học có thể lựa chọn cho mình bộ SGK phù hợp. Ấn Độ có những máy tính bảng với giá 35 USD phục vụ cho học tập, Hãng Intel cũng có dự án làm những chiếc máy tính giá khoảng 35 USD để hợp tác với chính phủ các nước phát cho học sinh và học sinh có thể tự do tải về bất cứ SGK hay tài liệu học tập nào. Các hãng như Amazon cũng bán sách và thiết bị riêng để người dùng tự do lựa chọn và chỉ trả tiền cho sản phẩm nào muốn mua. Lạc Việt là đơn vị làm sách điện tử từ năm 2008 và từng hợp tác với NXB Giáo Dục để triển khai dự án số hóa SGK từ năm 2010 nhưng không làm được vì nguồn thu của NXB Giáo Dục chủ yếu từ bán SGK giấy, nếu số hóa sẽ ảnh hưởng đến doanh thu.

TS Lê Thống Nhất, phó giám đốc Công ty VTC Online, cho rằng dự án này có những điểm lạ như: thông thường bất cứ dự án nào về giáo dục nếu có giá trị trên 100 triệu đồng phải qua đấu thầu. Mặt khác, nội dung SGK là tài sản của Bộ GD-ĐT, trong trường hợp này đã được biến thành tài sản riêng của doanh nghiệp và được bán với giá không hợp lý khi trên thị trường có những loại máy tính bảng có giá bán lẻ chỉ khoảng 1,6 triệu đồng, ngay cả thương hiệu lớn như Kindle của Amazon cũng chỉ có giá khoảng 200 USD.

Nhà nước số hóa, đặt hàng máy riêng cho giáo dục

“Nội dung SGK là tài sản của Bộ GD-ĐT, trong trường hợp này đã được biến thành tài sản riêng của doanh nghiệp và được bán với giá không hợp lý”

TS Lê Thống Nhất 
(Công ty VTC Online)

Theo ông Đồng Phước Vinh – giám đốc Công ty sách điện tử Trẻ thuộc NXB Trẻ, Bộ GD-ĐT đầu tư nghiên cứu xây dựng nội dung SGK bằng ngân sách nhà nước, tức là tài sản của nhân dân. Do vậy NXB Giáo Dục có thể in và bán sách giấy. Còn với sách điện tử, do chi phí làm sách khá thấp nên chăng sau khi trừ đi chi phí viết phần mềm, phí tác quyền, phí duy trì thì bán với giá hợp lý để mọi người đều có thể tiếp cận, sử dụng trên tất cả loại máy tính bảng đã có sẵn.

Ông Vinh băn khoăn giá Classbook cao so với mặt bằng giá máy tính bảng hiện nay, đồng thời nếu sau này trong quá trình sử dụng có những hư hỏng phần cứng như hư màn hình, hư pin thì phải làm thế nào? Bảo hành ở đâu, chi phí bao nhiêu, chi phí sửa chữa có mắc so với chi phí mua máy? Tuổi thọ một sản phẩm công nghệ thông tin thông thường chỉ 3-4 năm, như vậy trong 12 năm học, học sinh sẽ phải thay 3-4 lần máy? Mỗi lần thay máy thì chi phí bản quyền sách đã mua được tính thế nào? Ngoài ra, máy Classbook của NXB Giáo Dục được đặt sản xuất từ Trung Quốc với chất lượng thế nào không rõ.

20140407151121-intel2

Theo ông Vinh, tại sao lại không xây dựng dự án máy tính bảng cho giáo dục và đặt hàng những hãng lớn, uy tín và có nhà máy tại VN để họ sản xuất những dòng máy riêng cho giáo dục với chất lượng cao, giá thành rẻ?

Nếu vì mục tiêu chung là tạo ra một sản phẩm cho giáo dục VN thì Bộ GD-ĐT nên cung cấp nội dung SGK và cho doanh nghiệp đấu thầu số hóa sách và cung cấp máy tính bảng giá rẻ. Đó là đề nghị của TS Lê Thống Nhất. Việc số hóa SGK không khó, bất cứ doanh nghiệp công nghệ thông tin nào cũng có thể làm được, nhưng bắt tay được với NXB Giáo Dục để số hóa lại không dễ. Nên chăng Bộ GD-ĐT hãy dùng ngân sách nhà nước để số hóa SGK vì kinh phí cho số hóa sách rất thấp, sau đó cung cấp miễn phí cho người dân.

Nếu có cơ chế này, thị trường sẽ có những cuộc cạnh tranh lành mạnh về máy tính bảng, doanh nghiệp có thể nhập máy từ Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ… và mức giá có thể sẽ xuống còn khoảng 1 triệu đồng/máy. Người tiêu dùng sẽ có những lựa chọn hợp lý và khôn ngoan để có thiết bị phù hợp.

Ông Phạm Thúc Trương Lương (giám đốc Công ty cổ phần Sách điện tử giáo dục, NXB Giáo Dục, đơn vị làm Classbook):

Sẵn sàng hợp tác, nhưng…

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại máy tính bảng, từ những loại có giá khoảng 2 triệu đồng đến các máy thương hiệu lớn có giá cao hơn. Để so sánh giá, cần tìm những sản phẩm cấu hình tương đương với Classbook để so sánh tường tận, công bằng. Giá cao hay thấp, có chấp nhận được hay không là do người tiêu dùng tự quyết định.

Ngoài ra, sản phẩm Classbook sẽ rất khó phân tách riêng phần cứng thiết bị và phần mềm nội dung vì sản phẩm đã được tác động từ lõi là hệ điều hành cho đến các nội dung khác của máy. Trong quá trình sử dụng, mỗi khi tái bản SGK, người dùng có thể tải về miễn phí, nếu có hỏng hóc cơ bản sẽ được bảo hành miễn phí trong một năm. Bên cạnh đó, nhà cung cấp cũng sẵn sàng các linh kiện để thay thế khi bất cứ linh kiện nào hư.

Classbook không phải là thiết bị bắt buộc và thay thế SGK giấy cũng như không phải là sản phẩm độc quyền. Với SGK điện tử, rào cản không phải là chính sách, chủ trương mà là kỹ thuật. Bất cứ doanh nghiệp nào có khả năng số hóa SGK và đưa ra những sản phẩm khác đều có thể hợp tác với NXB Giáo Dục để làm, nhưng phải đáp ứng những tiêu chí như chứng minh được công nghệ áp dụng an toàn, bảo mật cao, SGK sẽ không bị thay đổi, sửa chữa nội dung, bảo đảm sách sẽ không bị sao chép cho người khác.

HỒNG NHUNG

4.000 tỉ đồng cho đề án sách giáo khoa điện tử

TT – Hội thảo “Đề án thí điểm chương trình sách giáo khoa (SGK)  điện tử lớp 1, 2, 3 bậc tiểu học tại TP.HCM” vừa được Sở GD-ĐT TP.HCM tổ chức sáng 18-7.

 Theo đề án này, bảng tương tác sẽ thay thế bảng đen truyền thống, giáo viên sử dụng phần mềm để soạn giáo án, quản lý lớp học và có thể kiểm soát học sinh đang thao tác gì trên máy. Lớp học được trang bị mạng WiFi.

classbook

Mỗi học sinh sẽ sử dụng một máy tính bảng riêng, trong đó tích hợp toàn bộ bài học trong SGK. Tất cả thao tác như giới thiệu bài học cùng hình ảnh, video minh họa, kiểm tra bài, chơi trò chơi giáo dục, nhận xét về bài học, làm bài tập… đều được thao tác trên máy tính bảng.

Mỗi học sinh một máy tính bảng

Tránh độc quyền

Tôi đến dự hội thảo nhưng không có đề án trong tay. Phải có đề án cụ thể, minh bạch, xã hội mới góp ý được. Đã là thí điểm thì phải có mục tiêu cụ thể, trước đó phải có khảo sát, sau đó phải có đánh giá. Cần công bằng ở chỗ nên chọn phương án nào có thể thành công ở nội thành nhưng cũng phải có ở ngoại thành nữa, vì chúng ta đang xây dựng “nông thôn mới”. Nếu sử dụng máy tính bảng nên kích cầu nội địa, phát huy công nghệ trong nước, không nên sử dụng hàng nhập. Còn về phần mềm chúng ta nên kêu gọi các nhà viết phần mềm đưa ra các sản phẩm của mình, cái nào được xã hội chọn thì sử dụng, tạo ra sự cạnh tranh, không nên độc quyền phần mềm.

Ông LÊ THÁI HỶ (giám đốc Sở Thông tin và truyền thông TP.HCM)

Ông Phạm Thúc Trương Lương, đại diện Công ty EDC (NXB Giáo Dục VN) – đơn vị cung cấp SGK điện tử, phân tích: “Giải pháp này khắc phục những hạn chế của sách giấy như cập nhật chậm, đơn điệu, khó tra cứu, không tương tác, cồng kềnh. Giáo viên có thể sưu tầm nội dung gửi cho học sinh, giảm thời gian chấm bài, đi lại. Học sinh có thể tự học, tự tìm kiếm tài liệu trên mạng và ngồi tại chỗ chơi các trò chơi giáo dục, làm việc nhóm mà không phải di chuyển, xoay bàn ghế…”.

Cũng theo ông Lương, EDC hiện đã số hóa 300 cuốn SGK từ lớp 1 đến lớp 12 kèm các nội dung tương tác, kho bài giảng cho giáo viên, ngân hàng đề thi để sử dụng trong đề án này. Tập đoàn Intel là đơn vị sẽ đảm trách việc đào tạo giáo viên nếu đề án được phê duyệt.

Hầu hết đại biểu tại hội thảo tâm đắc với chương trình mà đề án đưa ra bởi phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào giáo dục, song đều bày tỏ sự băn khoăn với tính khả thi của đề án.

Dù tại TP.HCM một số trường học đã phủ sóng WiFi, giáo viên thuần thục khi sử dụng thiết bị công nghệ, song ban giám hiệu nhiều trường vẫn chỉ ra những vướng mắc xung quanh câu chuyện mỗi học sinh có một máy tính bảng cá nhân:

Chương trình sẽ thực hiện đại trà hay chỉ chọn một vài lớp, như vậy có công bằng hay không?

Phụ huynh sẽ chi trả máy tính bảng hay từ ngân sách? Học sinh lớp 1, 2, 3 rất hiếu động, các em có giữ gìn chiếc máy tính bảng này không hay nhà trường giữ?

Có kiểm soát được học sinh sử dụng vào mục đích khác? Giáo viên được đào tạo ra sao để sử dụng nhuần nhuyễn những công nghệ mới này?

Máy tính bảng có thay thế cách dạy – học truyền thống, nhất là ở độ tuổi lớp 1, 2, 3 đang trong quá trình học đọc, học viết?

Cô Trần Thị Thanh Thủy, phó Phòng GD-ĐT quận 10, nêu ý kiến: “Để đáp ứng cho lớp học này, máy tính bảng phải có sự an toàn và độ bền, tuy nhiên tôi chưa an tâm lắm về độ sáng, độ lóa của màn hình, độ cạnh nhọn, nếu sử dụng trong 30 phút liên tục thì có ảnh hưởng đến thị lực? Hiện nay trẻ 2-3 tuổi đã bắt đầu sử dụng được máy tính, nhưng khi dùng để học làm thế nào để các cháu sử dụng thiết thực và hiệu quả?”.

Chi khoảng 4.000 tỉ đồng

Mặc dù những thông tin cụ thể về đề án không được công bố rộng rãi, đại diện Sở Kế hoạch – đầu tư TP.HCM hé lộ trong phần phát biểu của mình: “Theo nội dung đề án mà chúng tôi nhận được, kinh phí sẽ từ 3.900-4.400 tỉ đồng, trong đó xã hội hóa 27-32%”.

Ông Nguyễn Văn Lâm, phó trưởng Ban kinh tế – ngân sách HĐND TP.HCM, nêu ý kiến: “Hơn 4.000 tỉ đồng không phải con số nhỏ, dù biết đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, song phải chọn thời điểm đầu tư, cần có khảo sát nhu cầu, khả năng tài chính của phụ huynh từng địa phương. Đã đầu tư thí điểm thì có thể thắng hoặc thua. Nếu thành công thì nhân rộng, nhưng nếu không thì phần đã đầu tư rồi có thể sử dụng trong tương lai như thế nào để tránh lãng phí?”.

trinh-dien

Ông cũng cho rằng các nhà khoa học cần nghiên cứu xem ở độ tuổi nào trẻ tiếp cận công nghệ, cụ thể là SGK điện tử, một cách tốt nhất, việc này cũng giống như nghiên cứu trẻ ở lứa tuổi nào thì uống sữa gì, ăn cháo hay cơm nát, cơm thường…

Ông Trần Trọng Khiêm, phó Phòng GD-ĐT Tân Phú, phát biểu: “Tính liên tục của đề án ra sao, liệu các em có mất hứng thú khi cấu trúc của các năm học không thay đổi? Lộ trình sẽ như thế nào, làm đại trà hay trong từng khối, từng lớp? Học sinh lớp 1, 2, 3 là giai đoạn giáo dục học tập cơ bản, lớp 4, lớp 5 mới là giai đoạn sâu hơn, các em có sự hứng thú, tìm hiểu hơn. Tôi cho rằng dù là phương pháp hiện đại nào cũng cần sử dụng cách dạy truyền thống và kết hợp các hình thức dạy học khác”.

Nhiều đại biểu tại hội thảo là trưởng, phó phòng GD-ĐT các quận, huyện và ban giám hiệu các trường tiểu học cho biết không nhận được tài liệu cụ thể về đề án trước và trong khi tham dự. Vì vậy nhiều câu hỏi về lộ trình, kinh phí, quy mô thực hiện này được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời nào từ các đơn vị liên quan.

LƯU TRANG

Đầu năm học mới: lấy ý kiến phụ huynh học sinh

Theo ông Hứa Ngọc Thuận – phó chủ tịch UBND TP.HCM, xuất phát từ tiếng nói của học sinh trong các buổi đối thoại với lãnh đạo thành phố về việc học sinh phải mang vác nặng khi đến trường, UBND TP đã chỉ đạo Sở GD-ĐT TP.HCM xây dựng đề án. “Sở GD-ĐT TP.HCM đã trình hai phương án, hôm nay chúng ta đã nghe trình bày một phương án, sẽ có những hội thảo tiếp theo để tiếp tục nghe một phương án nữa. Đề nghị sở tiếp thu các ý kiến để hoàn thiện đề án của mình và gửi đề án cho các nhà quản lý, thầy cô giáo. Vào đầu năm học mới 2014-2015 sẽ tổ chức lấy ý kiến phụ huynh về đề án này, xem phụ huynh có đồng thuận hay không, thực hiện như thế nào, phụ huynh nghèo thì sao…?” – ông Thuận cho biết.

Về sách giáo khoa điện tử

<báo tuổi trẻ>

Nhà xuất bản Giáo Dục VN có thể đưa các cuốn sách giáo khoa điện tử này lên các kho sách số khổng lồ hoặc tạo riêng kho sách số của mình để những ai cần có thể mua bất cứ cuốn nào. Đây mới là sự chuẩn xác của việc xuất bản và bán sách điện tử. Nhưng Nhà xuất bản Giáo Dục VN đã chưa làm như vậy (tôi nói “chưa” vì hi vọng… sẽ làm).

Bán bia kèm mồi

Khi đưa ra sản phẩm sách giáo khoa điện tử, Nhà xuất bản Giáo Dục VN đã “khóa” chặt trong một thiết bị phần cứng và vô hình trung tạo ra một cách bán hàng “bia kèm lạc (đậu phộng)” mà “bia” là sách giáo khoa điện tử và “lạc” là thiết bị phần cứng.

Cách bán “bia” cũng rất lạ. Không bán theo nhu cầu người “uống” mà bán trọn “thùng”, dù anh chỉ có khả năng uống 1 “cốc” (!). Như vậy học sinh THPT đã phải “uống thêm” tất cả các bộ sách của hai cấp học đã qua, giáo viên dạy toán phải “uống thêm” tất cả các môn khác… Nếu không “uống thêm” thì số “bia thừa” sẽ chỉ đổ đi!

Điều đặc biệt hơn là vì “bia” (kể cả “bia thừa”) mà người tiêu dùng đã phải mua “lạc” với giá cao (vì không có sự cạnh tranh nào về thiết bị độc quyền chứa “bia” này!). Vô hình trung sự độc quyền đã bước sang một lĩnh vực mới là thiết bị đọc sách điện tử.

Nghĩ gì khi đọc ý kiến của đại diện Nhà xuất bản Giáo Dục, ông Phạm Thúc Trương Lương: “Bất cứ doanh nghiệp nào có khả năng số hóa sách giáo khoa và đưa ra những sản phẩm khác đều có thể hợp tác với Nhà xuất bản Giáo Dục để làm, nhưng phải đáp ứng những tiêu chí như chứng minh được công nghệ áp dụng an toàn, bảo mật cao, sách giáo khoa sẽ không bị thay đổi, sửa chữa nội dung, bảo đảm sách sẽ không bị sao chép cho người khác?”.

Nếu ai am hiểu công nghệ thông tin và các thiết bị có thể đọc được sách điện tử thì có thể thấy rằng rất nhiều doanh nghiệp có khả năng này, không chỉ là Nhà xuất bản Giáo Dục VN hay Công ty CP Tinh Vân.

Việc bảo mật của sách điện tử trước hết là ở ngay việc bảo mật khi thiết kế phần mềm. Nếu Nhà xuất bản Giáo Dục VN là đơn vị phát hành sách điện tử thì việc này đầu tiên là của Nhà xuất bản Giáo Dục VN. Tất cả các nhà xuất bản trên thế giới khi xuất bản sách điện tử đều phải làm việc bảo mật.

Còn thiết bị nào bảo mật được sách điện tử là điều mà cả thế giới đã biết, tất cả đang có trong rất nhiều gia đình chứ không phải chỉ thiết bị Classbook mới bảo mật được nội dung!

Giải pháp nào?

Rất đơn giản, Nhà xuất bản Giáo Dục VN hãy là đơn vị xuất bản sách giáo khoa điện tử theo đúng nghĩa, nói ví von là cứ sản xuất và bán “bia”!

Sản xuất sách điện tử có mất công thêm về số hóa, tích hợp các media, bảo mật nhưng so với xuất bản sách in vẫn rẻ hơn nhiều khi không mất công in, không phải mua giấy in, không phải vận chuyển vất vả và đặc biệt là không bị tồn kho.

Cứ tính đại khái thì sách điện tử chắc rẻ hơn sách in. Nếu như vậy, các thiết bị đọc sách điện tử sẽ do người tiêu dùng quyết định, cũng như người uống “bia” không nhất thiết phải chọn “lạc Classbook” mà có thể chọn “mồi X”, “mồi Y”…, thậm chí chọn “mực khô”, “cá kèo”… miễn là “bia” được bảo mật là “bia”.

Nói thêm về “3 không” của thiết bị Classbook, cứ cho là “3 không” này là ưu việt (chưa chắc đã đúng, xin không bàn ở bài này!) thì lập tức trên thị trường sẽ có ngay các thiết bị có đủ “3 không” này! Khi đó Nhà xuất bản Giáo Dục VN cùng lắm là mang tiếng độc quyền sách chứ không mang tiếng thêm về độc quyền thiết bị bán kèm sách!

Nhu cầu uống “bia” đâu chỉ dừng lại ở một loại “bia sách giáo khoa” mà còn nhiều loại “bia” khác. Nhưng chuyện “bia” xin được bàn ở những dịp sau.

TRẦN PHƯƠNG NAM

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Sách điện tử (electronic book – eBook) là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường. Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng phân phát, chia sẻ trên Internet. Với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử là một lựa chọn tuyệt vời cho nhu cầu lưu trữ và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị điện toán cá nhân…

Như vậy khái niệm sách điện tử là “phương tiện số” không bao hàm các khái niệm về thiết bị để có thể đọc sách điện tử, mà các thiết bị này lại rất phong phú. Vậy sản phẩm Classbook của Nhà xuất bản Giáo Dục VN đưa ra thị trường không nên gọi là “sách giáo khoa điện tử” mà nên hiểu chính xác hơn là thiết bị có chứa sách giáo khoa điện tử!

 

Lãng phí bảng tương tác: Hàng trăm tỉ đồng mà dùng như bảng đen

(Theo Thanhnienonline)

Áp dụng công nghệ vào việc dạy học là một chủ trương đúng. Vấn đề đặt ra ở đây là phải xuất phát từ thực tế nhu cầu để tránh lãng phí.

 Theo nhiều giáo viên, bảng tương tác ở các trường mầm non, tiểu học được sử dụng như là máy chiếu - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Theo nhiều giáo viên, bảng tương tác ở các trường mầm non, tiểu học được sử dụng như là máy
chiếu – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Chênh lệch quá lớn

Tại tọa đàm “Đổi mới trang thiết bị trường học – Những vấn đề đặt ra” diễn ra vào tháng 11.2013 do Sở GD-ĐT TP.HCM kết hợp cùng Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức, ông Lê Hoài Nam, Phó giám đốc sở, cho biết: “Đây là một trong những nội dung quan trọng của đề án nâng cao chất lượng giảng dạy, hiện đại hóa các thiết bị trường học do UBND TP.HCM phê duyệt. Ủy ban chỉ đạo Sở lên kế hoạch từng bước triển khai cho tất cả trường học, bậc học mà trước tiên là ở các trường mầm non và tiểu học trang bị với giá 181 triệu đồng/chiếc. Trong đó, thành phố sẽ hỗ trợ 50%, còn lại nhà trường vận động phụ huynh đóng góp”. Đơn vị trúng thầu mua sắm trang thiết bị này là Công ty CP Tiến bộ Quốc tế – AIC (trụ sở tại 69 Tuệ Tĩnh, Hà Nội).

Tuy nhiên, dư luận cho rằng mức giá trúng thầu mà đơn vị này thực hiện là quá cao so với giá gốc tại kho cũng như giá thực hiện của các đơn vị khác.

Tại Việt Nam, có nhiều đơn vị cùng cung cấp bảng tương tác với tính năng giống nhau, chất lượng không khác nhưng giá của thiết bị mà AIC phân phối độc quyền chênh lệch gấp nhiều lần so với các nhà cung cấp khác.

Báo Thanh Niên đã thu thập báo giá của một số đơn vị khác và thấy có sự khác biệt rất lớn. Cụ thể, chỉ tính theo giá tại kho (chưa tính giá áp dụng vào các trường), đã có sự chênh lệch gấp 2,2 – 3,6 lần (xem bảng 1).

Tại tọa đàm nêu trên, bà Hoàng Thị Thúy Nga, Giám đốc, đại diện phía nam Công ty AIC, cho biết kinh phí này bao gồm thuế nhập khẩu, phí vận chuyển bằng đường biển, phí lắp đặt, đào tạo, tập huấn, phí bảo hành 1 năm và kinh phí xã hội hóa trong 2 năm. Một bộ bảng tương tác bao gồm các máy móc liên quan như bảng trình chiếu, máy chiếu, chân máy, bộ chuyển, phần mềm… Tuy nhiên, theo các đơn vị chúng tôi tìm hiểu, giá các đơn vị đưa ra cũng bao gồm tất cả những hạng mục này.

Thử làm một phép tính để thấy sự chênh lệch lớn đến đâu và học sinh sẽ được hưởng lợi thế nào khi giá thành bộ bảng tương tác hạ xuống.

Theo bảng 2, với giả định theo giá các đơn vị khác cung cấp là 60 triệu đồng/bộ, còn nếu tận dụng được các thiết bị đã có sẵn như máy tính, projector thì chỉ khoảng 30 triệu/bộ. Chúng tôi giả định có 606 trường được trang bị bảng tương tác (theo kế hoạch của Sở GD-ĐT TP.HCM). Với khoảng 180 tỉ đồng và mức giá 181 triệu đồng/bộ theo giá của AIC thì mỗi trường chỉ có thể được trang bị tối đa là 2 bộ. Trong khi đó, nếu đầu tư với mức giá 60 triệu đồng/bộ thì mỗi trường có đến 5 bộ. Còn nếu biết tận dụng tiết kiệm dựa trên thiết bị đã có sẵn thì mỗi trường có thể có đến 10 bộ. Có nghĩa là khoảng 30 – 50% số lớp học trên một cấp sẽ được trang bị bảng tương tác. Lúc đó thì sức ảnh hưởng tích cực lên chất lượng giáo dục mới lớn. Với 2 bảng một trường cho hơn 20 lớp học thì sao có thể có hiệu quả giảng dạy tốt được, đấy là chưa kể về chất lượng phần mềm, nội dung.

Lớp học thông minh không chỉ dựa vào công nghệ

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng trong việc đầu tư bảng tương tác không phải là chọn bảng gì, công nghệ nào, mà là nội dung gì sẽ đi kèm với cái đó.

Một chuyên gia nghiên cứu về bảng tương tác nhận định rằng các trường học đang coi bảng tương tác như một giải pháp thần kỳ và đầu tư ồ ạt mà không nhận thức được một nhầm lẫn rất nguy hiểm rằng lớp học được trang bị công nghệ chưa hẳn là lớp học thông minh. “Một câu hỏi rất lớn cần được giải đáp là giáo viên sử dụng nội dung gì để dạy với hệ thống thiết bị đó?”, chuyên gia này đặt vấn đề. Không có bài giảng số thì đầu tư thiết bị phần cứng là vô nghĩa và lãng phí.

Hiện nay, các hình thức bài giảng đang được áp dụng trong trường học bao gồm: bài giảng PowerPoint giáo viên tự soạn, bài giảng trong sách giáo khoa được scan/đánh máy lại, một số video clips, bài học do giáo viên tự tìm trên internet; một số bài học tiếng Anh trong CD đính kèm các bộ sách… Các bài giảng này hầu như không có tính tương tác: bài học được chiếu lên bảng tương tác và học sinh viết chữ lên bảng. Như vậy bảng tương tác có chức năng như bảng truyền thống nhưng chi phí lại quá đắt.

Nếu không giải quyết được vấn đề thiết bị công nghệ đi kèm với bài giảng số, chỉ trong một thời gian ngắn, các thiết bị này sẽ bị bỏ quên và không được sử dụng (do thao tác phức tạp, mất thời gian mà hiệu quả chỉ như bảng truyền thống), gây lãng phí rất lớn. Đánh giá về điều này, một chuyên gia phân tích rằng việc sử dụng bảng tương tác và lớp học thông minh tại các nước khác hiệu quả là vì họ có nội dung số tốt chứ không phải vì công nghệ hiện đại và đắt đỏ. Chưa kể, công nghệ khoảng 2 năm đã lạc hậu mà chúng ta chọn giải pháp chi phí lớn như vậy thì quá phí phạm và xa xỉ.

“Tôi tin rằng, bảng tương tác hiện nay vẫn còn nằm “đắp chiếu” tại rất nhiều trường”, chuyên gia này kết luận. Và đây chính là thực tế hiện nay.

Công nghệ có phải là chiếc đũa thần ?

Giáo dục nước ta hiện nay dường như đang nằm trong tình trạng chờ đợi, trông cậy quá nhiều vào sự kỳ diệu của công nghệ, thiết bị hiện đại mà không cần biết đến điều kiện cơ bản, nhu cầu thực tế có phù hợp hay không.

Sau hơn nửa chặng đường thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020, ngày 19.5, lãnh đạo Bộ GD-ĐT chính thức đưa ra những nhận định về việc thực hiện đề án này. Sau rất nhiều phản hồi từ dư luận về sự lãng phí, không thiết thực, thiếu hiệu quả của đề án, đến giờ Bộ GD-ĐT chính thức thừa nhận: “Phân bổ kinh phí không cân đối giữa các hạng mục chi; sử dụng ngân sách lãng phí, đặc biệt ở khâu mua sắm thiết bị dạy học”.

Theo đó các địa phương đua nhau mua sắm thiết bị mới mà không rà soát, kiểm kê thiết bị đã có, mua các thiết bị công nghệ thông tin chỉ có phần cứng, không có các phần mềm ứng dụng đi kèm nên không sử dụng được hoặc không khai thác hết được tính năng của thiết bị. Trong khi đó, vấn đề đáng quan tâm hơn là chất lượng giáo viên để đáp ứng đề án lại không có hướng thực hiện hợp lý; dẫn đến hiện tượng chuẩn giáo viên tiếng Anh giảm so với lúc ban đầu và đi đến thực trạng hết sức lo ngại là có tỉnh đến nay không có một giáo viên đạt chuẩn theo yêu cầu. Bi đát hơn, tại hội nghị giao ban công tác triển khai thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 khối các trường ĐH, CĐ trực thuộc Bộ GD-ĐT diễn ra tại TP.HCM hồi đầu tháng 5, chính Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển thừa nhận có đến 90% giáo viên không đạt yêu cầu. Có giảng viên ĐH trình độ ngoại ngữ thực tế chỉ bằng yêu cầu đầu ra của học sinh tiểu học!

Trong tháng 4, xã hội đã một phen bất bình trước đề án đổi mới chương trình – sách giáo khoa mà lãnh đạo Bộ  GD-ĐT trình trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trước khi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận bác bỏ thông tin về kinh phí thì dự kiến chi tiêu cho đề án được công bố là hơn 34.000 tỉ đồng.

Trong đó chỉ có 105 tỉ đồng dành cho phần quan trọng nhất là biên soạn chương trình – sách giáo khoa, sách giáo viên. Còn đến 20.100 tỉ đồng (khoản kinh phí lớn nhất) dành cho trang thiết bị dạy học, dự kiến thay thế 50% thiết bị dạy học đang có. Trong khi đó, thực tế ai cũng thấy rằng trang thiết bị, đồ dùng dạy học được trang bị ở nhiều trường, nhiều nơi vẫn còn để trong kho, chưa qua sử dụng.

Chủ trương trang bị bảng tương tác của Sở GD-ĐT TP.HCM gây nhiều ý kiến phản bác một phần cũng vì lẽ này.

Không ai phủ nhận lợi ích của công nghệ, trang thiết bị hiện đại đối với việc dạy và học. Thế nhưng việc đầu tư mua sắm thiết bị công nghệ cần nằm trong một chiến lược tổng thể và phải có mục tiêu rõ ràng. Chứ không nên theo kiểu làm chắp vá như hiện nay khiến người dân không thể không hoài nghi về những tư lợi của lãnh đạo các cấp trong ngành giáo dục dưới vỏ bọc công nghệ. Ở đây, chúng tôi muốn lặp lại nhận định của một chuyên gia về công nghệ rằng mục đích của công nghệ là để giảm chi phí giảng dạy chứ không làm giáo dục trở nên đắt đỏ và xa xỉ.

Thùy Ngân

Bảng 1

Bảng 1

Bảng 2

Bảng 2

Đăng Nguyên

Kiện toàn tổ chức bộ máy và bổ nhiệm cán bộ quản lý Đại học Huế

GD&TĐ – Đại học Huế đã tổ chức công bố các quyết định kiện toàn bộ máy và bổ nhiệm cán bộ quản lý của Đại học Huế.

Tại Lễ công bố, các văn bản liên quan tới việc kiện toàn bộ máy và bổ nhiệm cán bộ do Giám đốc Đại học Huế, PGS.TS Nguyễn Văn Toàn ký  đã được công bố: 

Le cong bo QD_CJKZ

Việc đổi tên Ban Tổ chức Nhân sự Đại học Huế thành Ban Tổ chức cán bộ Đại học Huế;  việc đổi tên Ban Khoa học Công nghệ thành Ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Đại học Huế;  việc đổi tên Ban Công tác Sinh viên thành Ban Công tác Học sinh Sinh viên Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Thanh tra Đại học Huế trên cơ sở chia tách Ban Thanh tra Pháp chế – Thi đua Khen thưởng Đại học Huế;  việc thành lập Ban Pháp chế – Thi đua Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Đào tạo Đại học Huế trên cơ sở sáp nhập Ban Đào tạo Đại học Đại học Huế và Ban Đào tạo Sau đại học Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Cơ sở vật chất Đại học Huế trên cơ sở sáp nhập Ban Quản lý Dự án Xây dựng Đại học Huế và Ban Quản trị Cơ sở vật chất Đại học Huế (các QĐ có hiệu lực từ ngày 6/6/2014)

Trước đó, Giám đốc Đại học Huế cũng đã ký Quyết định số 808/ QĐ ĐHH về việc thành lập Viện Công nghệ Sinh học Đại học Huế là đơn vị trực thuộc Đại học Huế, có chức năng, nhiệm vụ được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của Viện, của Đại học Huế và các quy định của pháp luật hiện hành kể từ ngày 2/5/2014.

Cũng trong  Ngày 12/5/2014, Giám đốc Đại học Huế đã ký quyết định 930/QĐ ĐHH về việc chuyển đổi mô hình quản lý Tạp chí Khoa học Đại học Huế thành đơn vị trực thuộc Đại học Huế. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.

Cùng với các quyết định đổi tên, thành lập các ban, đơn vị trực thuộc, Giám đốc Đại học Huế đã có các quyết định bổ nhiệm cán bộ quản lý nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Thanh Huế (báo GD&TĐ ngày 13/5/2014)

Mạnh tay đầu tư cơ sở vật chất

Bên cạnh việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho GV ngoại ngữ, nhiều địa phương đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở các trường phổ thông. Môi trường học tập hiện đại, sôi động kích thích tinh thần tự học, chủ động tiếp thu kiến thức của học sinh.

ik600 2

Thuận lợi khi thí điểm

Theo ông Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở GD&ĐT Đà Nẵng, hiện toàn thành phố đã đầu tư được 56 phòng học ngoại ngữ tại các trường học cùng phần mềm xây dựng ngân hàng đề thi, câu hỏi trắc nghiệm. chỉ tính riêng đầu năm học 2013 – 2014 này, Đà Nẵng đã đưa vào sử dụng 21 phòng học ngoại ngữ cho các trường phổ thông, với tổng số tiền gần 5 tỷ đồng từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu năm 2013. Nói về việc được đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại cho phòng ngoại ngữ với kinh phí gần 290 triệu đồng, ông Võ Xuân Tấn – Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Văn Cừ (quận Sơn Trà) cho biết: “Lâu nay nhà trường luôn ao ước có một phòng ngoại ngữ để nâng cao chất lượng dạy và học. Thế nhưng, đây là bài toán khó của nhà trường vì kinh phí eo hẹp. Nay được Sở GD-ĐT đầu tư phòng học khang trang, hiện đại như vậy, thầy và trò nhà trường rất phần khởi”. Trường Trần Bình Trọng là một trong những trường tiểu học được Sở GD-ĐT đầu tư phòng học ngoại ngữ khá sớm trên địa bàn quận Liên Chiểu từ năm 2012. Ông Nguyễn Hỷ – Hiệu trưởng Trường tiểu học Trần Bình Trọng – đánh giá việc đưa vào sử dụng phòng học ngoại ngữ tại trường trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả giáo dục khá tốt. Cứ đến giờ học ngoại ngữ, học sinh thích thú, chủ động hơn trong việc nắm bắt kiến thức. “Chỉ sau một năm sử dụng phòng học ngoại ngữ, chất lượng giáo dục của nhà trường đã nâng lên rõ rệt”, ông Hỷ khẳng định.

Hiện quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) đang triển khai thí điểm dạy và học ngoại ngữ bắt buộc đối với HS lớp 6,7 tại 3 trường THCS Lê Lợi, THCS Trần Đại Nghĩa, và Huỳnh Bá Chánh. Ông Nguyễn Lâm – Trưởng phòng GD&ĐT Ngũ Hành Sơn cho biết, nhưng HS theo học chương trình thí điểm đều được khảo sát đầu vào, mỗi trường chỉ có 1 lớp/1 khối. Ở các trường này đều được trang bị một phòng học ngoại ngữ được đầu tư rất hiện đại từ chương trình mục tiêu. Chính vì vậy, HS rất thuận lợi trong việc rèn được 4 kỹ năng nghe – nói – đọc – viết.

Quảng Bình mới chỉ thực hiện triển khai thí điểm dạy tiếng Anh đối với bậc THCS theo chương trình lớp 6, lớp 7 tại một số trường trên địa bàn thành phố Đồng Hới và huyện Bố Trạch nhưng cũng đã đầu tư trang thiết bị cho 41 phòng học ngoại ngữ cho các đơn vị. Việc rà soát, đánh giá năng lực tiếng Anh đối với giáo viên đang giảng dạy tại các trung tâm GDTX, TCCN và trung tâm ngoại ngữ trong tỉnh cũng đã được tiến hành xong.

Nhiều giáo viên dạy môn ngoại ngữ cấp phổ thông ở các trường học cũng có chung nhận xét. Việc ứng dụng CNTT, sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học trong bộ môn Ngoại ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức. Các thiết bị dạy học hiện đại tạo ra sự tương tác hiệu quả giữa GV và HS, giúp các em hứng thú, chủ động tiếp thu kiến thức. Với mô hình phòng học ngoại ngữ này, các em có thể học nhóm, thảo luận sôi nổi, đưa ra chính kiến của mình, xem các chương trình hội thoại, cơ hội rèn luyện các kỹ năng nghe – nói vì vậy cũng nhiều hơn trước…

Bài toán đội ngũ

Khó khăn lớn nhất, ngoài bài toán kinh phí, theo ông Lê Trung Chinh, qua thực tế thì việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho giáo viên không thể một sớm, một chiều, nhất là với các GV lớn tuổi. Đồng ý với quan điểm này, ông Nguyên Lâm – Trưởng phòng GD&ĐT Ngũ Hành Sơn nhận xét: “Chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngôn ngữ cho GV Tiếng Anh rất hay với điều kiện được vận dụng cho những đối tượng có năng lực, trình độ và yêu công việc. Với những GV lớn tuổi, theo đuổi được chương trình này thì rất vất vả”. Việc GV vừa tham gia bồi dưỡng vừa gánh vác công việc chuyên môn ở trường nên cũng gặp nhiều khó khăn. Điều này thể hiện rõ qua buổi hội thảo vào đầu năm 2013 do Viện Anh ngữ Đà nẵng –  ĐH Queensland, Cambridge ESOL Việt Nam và Sở GD&ĐT tổ chức nhằm phục vụ cho kỳ thi sát hạch lấy chứng chỉ FEC quốc tế – tương đương với cấp độ B2 theo CEFR, khung tham chiếu châu Âu. Có không ít GV cho rằng rất khó để đảm bảo tính chuyên cần khi tham gia chương trình bồi dưỡng, dù lịch học chỉ 2 buổi/tuần. Nhiều GV vẫn phải dạy trên dưới 20 tiết/tuần ở trường nên việc đi học đã gây ít nhiều ảnh hưởng, xáo trộn, có quá ít thời gian để đầu tư cho bài vở.

Trường THPT chuyên Quảng Bình được xem là một trong nhưng trường đi đầu trong thí điểm dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh. Từ thành công của hai tiết dạy thí điểm tại một lớp chuyên toán và không chuyên, dự định trong thời gian tới, tổ Toán của nhà trường sẽ tiếp tục dạy thử nghiệm chương trình tự chọn, đồng thời triển khai các bài kiểm tra 15 phút và làm bài tập bằng tiếng Anh để học sinh tiếp tục làm quen với hình thức học tập mới mẻ này. Dự kiến năm học 2014 – 2015, việc dạy và học các môn KHTN bằng tiếng Anh sẽ mở rộng sang các môn khác như Vật lý, Sinh học, Hóa học, Tin học, … Trường THPT chuyên Quảng Bình cũng đang tiến hành tổ chức các lớp tiếng Anh giao tiếp tại trường với sự tham gia của GV nước ngoài nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Anh cho đội ngũ GV, sẵn sàng cho việc triển khai thực hiện các nội dung đề án …

Có một băn khoăn khác về phía phụ huynh có con em theo học chương trình dạy và học ngoại ngữ bắt buộc đó là theo chương trình Anh văn 10 năm (lớp 3 – lớp 12), thì khi lên những lớp lớn hơn ở THCS và THPT liệu có được cùng ngồi chung với nhau để cùng học chung chương trình, hay lại bị phân tán vì trình độ học tập của các em ở mỗi trường, lớp, quận, đều không thể đồng nhất. Tại Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chủ trương của quận sẽ cho thêm một trường tiểu học để học chung chương trình thí điểm này và sẽ gom học sinh của hai trường này về THCS Nguyễn Văn Linh nếu các em lên cấp THCS để các em tiếp tục học chung chương trình Anh văn thí điểm năm thứ 4. Đây cũng là bài toán mà các cấp quản lý ngành GD&ĐT cũng phải tính đến trước khi quá muộn.

(theo Hà Nguyên, báo Giáo dục và Phát triển, ngày 30 tháng 4 năm 2014)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.