“Lỗ hổng” trong sử dụng thiết bị dạy học Ngoại ngữ

Giáo viên lắp được trang thiết bị thì sắp… hết tiết học, nhiều trường có thiết bị dạy học Ngoại ngữ nhưng “đắp chiếu” trong kho không sử dụng đến.

Cùng với năng lực GV, thiết bị dạy học (TTDH) là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc thực hiện đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020. Thế nhưng việc mua sắm và sử dụng TBDH dạy học Ngoại ngữ đến nay vẫn đang có nhiều vấn đề bất cập đến khó ngờ. Điều này được đề cập tại Hội thảo “Tư vấn mua sắm và tập huấn sử dụng thiết bị dạy học Ngoại ngữ” do Ban đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020, Bộ GD-ĐT tổ chức tại TPHCM ngày 23/8.

Ông Phạm Ngọc Phương, Phó cục trưởng Cục cơ sở vật chất và thiết bị trường học, đồ chơi trẻ em (Bộ GD-ĐT) cho biết, khi đi khảo sát một số nơi đã gặp tình huống giáo viên (GV) lắp xong được TBDH đã hết 30 phút, chỉ còn 15 phút để dạy học, nhiều TBDH nằm “đắp chiếu” trong kho như trường hợp tại một trường THPT ở Hà Tiên (Kiên Giang), hiệu trưởng mua TBDH về rồi khóa trong phòng,không cho sử dụng vì… sợ hỏng. Nhiều GV phàn nàn hiệu trưởng mua nhiều loại trang thiết bị họ không dùng được.

 
 
                                            DSC_8125
                  Phòng học Ngoại ngữ tại trường Tiểu học Hùng Vương – Vĩnh phúc

Theo ông Phương, nguyên nhân là do người mua ít quan tâm đến ý kiến, tâm tư của người sử dụng. “Mục tiêu có, hàng hóa có, tiền có nên chúng ta cần xác định mình mua cái gì, mua làm sao, mua thế nào để sử dụng được. Đừng để sau năm 2020trình độ Ngoại ngữ của con em lại… như chúng ta hồi trước”, ông Phương nhấn mạnh.

Ông Phương hóm hỉnh nói rằng, hai điều kiện Đề án Ngoại ngữ 2020 đặt ra là GV và phòng học cần bổ sung thêm điều kiện ý thức của lãnh đạo. Hiện nay, Bộ giao quyền tự chủ cho địa phương trong việc mua sắm TBDH dạy học Ngoại ngữ nên vai trò của giám đốc Sở GD-ĐT cực kỳ quan trọng.

Nói về tình trạng TBDH dạy học Ngoại ngữ “đắp chiếu”, một đại biểu trong Ban đề án phân tích: “Có tình trạng như vậy là do chúng ta chưa rà soát năng lực của GV, điều kiện thực tế trước khi mua trang thiết bị”.

Tính đến hết năm 2011, Hà Nội có 245/1.556 (16%) trường được đầu tư trang thiết bị phòng dạy học môn Ngoại ngữ. Kế hoạch năm 2012 sẽ đầu tư thêm 431 phòng ngoại ngữ, nâng tổng số trường có phòng học Ngoại ngữ lên 676.

Tuy vậy, ông Nguyễn Như Hòa, Phó Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính Sở GD-ĐT Hà Nội bày tỏ, một trong những khó khăn hiện nay là một số cán bộ chuyên trách quản lý, sử dụng TBDH chưa qua đào tạo cơ bản nên còn yếu về chuyên môn, dẫn đến hiệu quả sử dụng TBDH bị hạn chế.

PGS.TS Trần Văn Ân (Trường ĐH Vinh) cho rằng, các nguồn vốn dự án đầu tư TBDH dạy học Ngoại ngữ thường phân bổ chậm ảnh hưởng đến thực hiện dự án tài chính. Ngoài ra, có tình trạng từ ngày đề xuất mua sắm đến khi thực hiện thời gian dài nên nhiều model thiết bị đã lạc hậu, giá cả lại biến động ảnh hưởng đến việc mua sắm.

 

Nhiều đại biểu ý kiến về việc trang thiết bị nằm kho có thể do bị hư hỏng, tạm thời chưa được sửa chữa do kinh phí sữa chữa còn hạn chế.

Bà Trần Thị Tuyết (Trường THPT Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Nội) đánh giá công năng sử dụng TBDH tại nhiều trường THPT còn thấp do GV chưa được tập huấnkỹ càng. Ngoài ra học sinh chưa có ý thức giữ gìn nên ảnh hưởng đến chất lượng giờ học và độ bền của TBDH. TBDH phải đem sữa chữa nên nguồn bổ sung chậm.

Ông Phạm Ngọc Phương góp ý, bên cạnh việc lãnh đạo phải chú ý đến đối tượng sử dụng khi mua TBDH thì cần đầu tư bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho GV và học sinh trong việc khai thác và sử dụng TBDH khi tổ chức giờ học trên lớp.

Sau thời khai giảng năm học mới 2012 – 2013, Bộ GD-ĐT sẽ tiến hành kiểm tra việc mua sắm và sử dụng TBDH Ngoại ngữ tại các địa phương.

Theo Tin mới.

Advertisements

Sách giáo khoa điện tử: những khúc mắc

12 bộ sách giáo khoa (SGK) điện tử được khóa cứng trong máy tính bảng mang tên Classbook do NXB Giáo Dục độc quyền bán với giá 4,8 triệu đồng đang là vấn đề dư luận quan tâm, đặc biệt với những người hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, xuất bản và thiết bị trường học.

Các chuyên gia lĩnh vực này cho rằng việc SGK điện tử gắn chặt với thiết bị đọc sách của NXB Giáo Dục là đi ngược lại tinh thần phổ biến SGK rộng rãi và mất đi tính tốt đẹp của chủ trương số hóa SGK cũng như các xuất bản phẩm điện tử.

20140418_pg4

Không theo thông lệ

“Con út của tôi học lớp 10. Rất muốn mua máy, nhưng cứ nghĩ số tiền chi trả gộp cho cả sách từ lớp 1 đến lớp 9 mà con không cần dùng nữa, tôi thấy lãng phí”

Chị Vũ Mai Anh
(Cầu Giấy, Hà Nội)

Ông Hà Thân, tổng giám đốc Công ty phần mềm Lạc Việt, cho rằng việc gắn chặt sách với thiết bị để ngăn ngừa ăn cắp nội dung sách là một cách làm không giống thông lệ các nước và các hãng công nghệ lớn đang làm. Ở các nước, luật bản quyền rất chặt chẽ và bộ giáo dục chỉ đưa ra khung chương trình, còn nội dung SGK sẽ do các giáo viên giỏi viết và bán với những mức giá khác nhau, người học có thể lựa chọn cho mình bộ SGK phù hợp. Ấn Độ có những máy tính bảng với giá 35 USD phục vụ cho học tập, Hãng Intel cũng có dự án làm những chiếc máy tính giá khoảng 35 USD để hợp tác với chính phủ các nước phát cho học sinh và học sinh có thể tự do tải về bất cứ SGK hay tài liệu học tập nào. Các hãng như Amazon cũng bán sách và thiết bị riêng để người dùng tự do lựa chọn và chỉ trả tiền cho sản phẩm nào muốn mua. Lạc Việt là đơn vị làm sách điện tử từ năm 2008 và từng hợp tác với NXB Giáo Dục để triển khai dự án số hóa SGK từ năm 2010 nhưng không làm được vì nguồn thu của NXB Giáo Dục chủ yếu từ bán SGK giấy, nếu số hóa sẽ ảnh hưởng đến doanh thu.

TS Lê Thống Nhất, phó giám đốc Công ty VTC Online, cho rằng dự án này có những điểm lạ như: thông thường bất cứ dự án nào về giáo dục nếu có giá trị trên 100 triệu đồng phải qua đấu thầu. Mặt khác, nội dung SGK là tài sản của Bộ GD-ĐT, trong trường hợp này đã được biến thành tài sản riêng của doanh nghiệp và được bán với giá không hợp lý khi trên thị trường có những loại máy tính bảng có giá bán lẻ chỉ khoảng 1,6 triệu đồng, ngay cả thương hiệu lớn như Kindle của Amazon cũng chỉ có giá khoảng 200 USD.

Nhà nước số hóa, đặt hàng máy riêng cho giáo dục

“Nội dung SGK là tài sản của Bộ GD-ĐT, trong trường hợp này đã được biến thành tài sản riêng của doanh nghiệp và được bán với giá không hợp lý”

TS Lê Thống Nhất 
(Công ty VTC Online)

Theo ông Đồng Phước Vinh – giám đốc Công ty sách điện tử Trẻ thuộc NXB Trẻ, Bộ GD-ĐT đầu tư nghiên cứu xây dựng nội dung SGK bằng ngân sách nhà nước, tức là tài sản của nhân dân. Do vậy NXB Giáo Dục có thể in và bán sách giấy. Còn với sách điện tử, do chi phí làm sách khá thấp nên chăng sau khi trừ đi chi phí viết phần mềm, phí tác quyền, phí duy trì thì bán với giá hợp lý để mọi người đều có thể tiếp cận, sử dụng trên tất cả loại máy tính bảng đã có sẵn.

Ông Vinh băn khoăn giá Classbook cao so với mặt bằng giá máy tính bảng hiện nay, đồng thời nếu sau này trong quá trình sử dụng có những hư hỏng phần cứng như hư màn hình, hư pin thì phải làm thế nào? Bảo hành ở đâu, chi phí bao nhiêu, chi phí sửa chữa có mắc so với chi phí mua máy? Tuổi thọ một sản phẩm công nghệ thông tin thông thường chỉ 3-4 năm, như vậy trong 12 năm học, học sinh sẽ phải thay 3-4 lần máy? Mỗi lần thay máy thì chi phí bản quyền sách đã mua được tính thế nào? Ngoài ra, máy Classbook của NXB Giáo Dục được đặt sản xuất từ Trung Quốc với chất lượng thế nào không rõ.

20140407151121-intel2

Theo ông Vinh, tại sao lại không xây dựng dự án máy tính bảng cho giáo dục và đặt hàng những hãng lớn, uy tín và có nhà máy tại VN để họ sản xuất những dòng máy riêng cho giáo dục với chất lượng cao, giá thành rẻ?

Nếu vì mục tiêu chung là tạo ra một sản phẩm cho giáo dục VN thì Bộ GD-ĐT nên cung cấp nội dung SGK và cho doanh nghiệp đấu thầu số hóa sách và cung cấp máy tính bảng giá rẻ. Đó là đề nghị của TS Lê Thống Nhất. Việc số hóa SGK không khó, bất cứ doanh nghiệp công nghệ thông tin nào cũng có thể làm được, nhưng bắt tay được với NXB Giáo Dục để số hóa lại không dễ. Nên chăng Bộ GD-ĐT hãy dùng ngân sách nhà nước để số hóa SGK vì kinh phí cho số hóa sách rất thấp, sau đó cung cấp miễn phí cho người dân.

Nếu có cơ chế này, thị trường sẽ có những cuộc cạnh tranh lành mạnh về máy tính bảng, doanh nghiệp có thể nhập máy từ Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ… và mức giá có thể sẽ xuống còn khoảng 1 triệu đồng/máy. Người tiêu dùng sẽ có những lựa chọn hợp lý và khôn ngoan để có thiết bị phù hợp.

Ông Phạm Thúc Trương Lương (giám đốc Công ty cổ phần Sách điện tử giáo dục, NXB Giáo Dục, đơn vị làm Classbook):

Sẵn sàng hợp tác, nhưng…

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại máy tính bảng, từ những loại có giá khoảng 2 triệu đồng đến các máy thương hiệu lớn có giá cao hơn. Để so sánh giá, cần tìm những sản phẩm cấu hình tương đương với Classbook để so sánh tường tận, công bằng. Giá cao hay thấp, có chấp nhận được hay không là do người tiêu dùng tự quyết định.

Ngoài ra, sản phẩm Classbook sẽ rất khó phân tách riêng phần cứng thiết bị và phần mềm nội dung vì sản phẩm đã được tác động từ lõi là hệ điều hành cho đến các nội dung khác của máy. Trong quá trình sử dụng, mỗi khi tái bản SGK, người dùng có thể tải về miễn phí, nếu có hỏng hóc cơ bản sẽ được bảo hành miễn phí trong một năm. Bên cạnh đó, nhà cung cấp cũng sẵn sàng các linh kiện để thay thế khi bất cứ linh kiện nào hư.

Classbook không phải là thiết bị bắt buộc và thay thế SGK giấy cũng như không phải là sản phẩm độc quyền. Với SGK điện tử, rào cản không phải là chính sách, chủ trương mà là kỹ thuật. Bất cứ doanh nghiệp nào có khả năng số hóa SGK và đưa ra những sản phẩm khác đều có thể hợp tác với NXB Giáo Dục để làm, nhưng phải đáp ứng những tiêu chí như chứng minh được công nghệ áp dụng an toàn, bảo mật cao, SGK sẽ không bị thay đổi, sửa chữa nội dung, bảo đảm sách sẽ không bị sao chép cho người khác.

HỒNG NHUNG

4.000 tỉ đồng cho đề án sách giáo khoa điện tử

TT – Hội thảo “Đề án thí điểm chương trình sách giáo khoa (SGK)  điện tử lớp 1, 2, 3 bậc tiểu học tại TP.HCM” vừa được Sở GD-ĐT TP.HCM tổ chức sáng 18-7.

 Theo đề án này, bảng tương tác sẽ thay thế bảng đen truyền thống, giáo viên sử dụng phần mềm để soạn giáo án, quản lý lớp học và có thể kiểm soát học sinh đang thao tác gì trên máy. Lớp học được trang bị mạng WiFi.

classbook

Mỗi học sinh sẽ sử dụng một máy tính bảng riêng, trong đó tích hợp toàn bộ bài học trong SGK. Tất cả thao tác như giới thiệu bài học cùng hình ảnh, video minh họa, kiểm tra bài, chơi trò chơi giáo dục, nhận xét về bài học, làm bài tập… đều được thao tác trên máy tính bảng.

Mỗi học sinh một máy tính bảng

Tránh độc quyền

Tôi đến dự hội thảo nhưng không có đề án trong tay. Phải có đề án cụ thể, minh bạch, xã hội mới góp ý được. Đã là thí điểm thì phải có mục tiêu cụ thể, trước đó phải có khảo sát, sau đó phải có đánh giá. Cần công bằng ở chỗ nên chọn phương án nào có thể thành công ở nội thành nhưng cũng phải có ở ngoại thành nữa, vì chúng ta đang xây dựng “nông thôn mới”. Nếu sử dụng máy tính bảng nên kích cầu nội địa, phát huy công nghệ trong nước, không nên sử dụng hàng nhập. Còn về phần mềm chúng ta nên kêu gọi các nhà viết phần mềm đưa ra các sản phẩm của mình, cái nào được xã hội chọn thì sử dụng, tạo ra sự cạnh tranh, không nên độc quyền phần mềm.

Ông LÊ THÁI HỶ (giám đốc Sở Thông tin và truyền thông TP.HCM)

Ông Phạm Thúc Trương Lương, đại diện Công ty EDC (NXB Giáo Dục VN) – đơn vị cung cấp SGK điện tử, phân tích: “Giải pháp này khắc phục những hạn chế của sách giấy như cập nhật chậm, đơn điệu, khó tra cứu, không tương tác, cồng kềnh. Giáo viên có thể sưu tầm nội dung gửi cho học sinh, giảm thời gian chấm bài, đi lại. Học sinh có thể tự học, tự tìm kiếm tài liệu trên mạng và ngồi tại chỗ chơi các trò chơi giáo dục, làm việc nhóm mà không phải di chuyển, xoay bàn ghế…”.

Cũng theo ông Lương, EDC hiện đã số hóa 300 cuốn SGK từ lớp 1 đến lớp 12 kèm các nội dung tương tác, kho bài giảng cho giáo viên, ngân hàng đề thi để sử dụng trong đề án này. Tập đoàn Intel là đơn vị sẽ đảm trách việc đào tạo giáo viên nếu đề án được phê duyệt.

Hầu hết đại biểu tại hội thảo tâm đắc với chương trình mà đề án đưa ra bởi phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào giáo dục, song đều bày tỏ sự băn khoăn với tính khả thi của đề án.

Dù tại TP.HCM một số trường học đã phủ sóng WiFi, giáo viên thuần thục khi sử dụng thiết bị công nghệ, song ban giám hiệu nhiều trường vẫn chỉ ra những vướng mắc xung quanh câu chuyện mỗi học sinh có một máy tính bảng cá nhân:

Chương trình sẽ thực hiện đại trà hay chỉ chọn một vài lớp, như vậy có công bằng hay không?

Phụ huynh sẽ chi trả máy tính bảng hay từ ngân sách? Học sinh lớp 1, 2, 3 rất hiếu động, các em có giữ gìn chiếc máy tính bảng này không hay nhà trường giữ?

Có kiểm soát được học sinh sử dụng vào mục đích khác? Giáo viên được đào tạo ra sao để sử dụng nhuần nhuyễn những công nghệ mới này?

Máy tính bảng có thay thế cách dạy – học truyền thống, nhất là ở độ tuổi lớp 1, 2, 3 đang trong quá trình học đọc, học viết?

Cô Trần Thị Thanh Thủy, phó Phòng GD-ĐT quận 10, nêu ý kiến: “Để đáp ứng cho lớp học này, máy tính bảng phải có sự an toàn và độ bền, tuy nhiên tôi chưa an tâm lắm về độ sáng, độ lóa của màn hình, độ cạnh nhọn, nếu sử dụng trong 30 phút liên tục thì có ảnh hưởng đến thị lực? Hiện nay trẻ 2-3 tuổi đã bắt đầu sử dụng được máy tính, nhưng khi dùng để học làm thế nào để các cháu sử dụng thiết thực và hiệu quả?”.

Chi khoảng 4.000 tỉ đồng

Mặc dù những thông tin cụ thể về đề án không được công bố rộng rãi, đại diện Sở Kế hoạch – đầu tư TP.HCM hé lộ trong phần phát biểu của mình: “Theo nội dung đề án mà chúng tôi nhận được, kinh phí sẽ từ 3.900-4.400 tỉ đồng, trong đó xã hội hóa 27-32%”.

Ông Nguyễn Văn Lâm, phó trưởng Ban kinh tế – ngân sách HĐND TP.HCM, nêu ý kiến: “Hơn 4.000 tỉ đồng không phải con số nhỏ, dù biết đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, song phải chọn thời điểm đầu tư, cần có khảo sát nhu cầu, khả năng tài chính của phụ huynh từng địa phương. Đã đầu tư thí điểm thì có thể thắng hoặc thua. Nếu thành công thì nhân rộng, nhưng nếu không thì phần đã đầu tư rồi có thể sử dụng trong tương lai như thế nào để tránh lãng phí?”.

trinh-dien

Ông cũng cho rằng các nhà khoa học cần nghiên cứu xem ở độ tuổi nào trẻ tiếp cận công nghệ, cụ thể là SGK điện tử, một cách tốt nhất, việc này cũng giống như nghiên cứu trẻ ở lứa tuổi nào thì uống sữa gì, ăn cháo hay cơm nát, cơm thường…

Ông Trần Trọng Khiêm, phó Phòng GD-ĐT Tân Phú, phát biểu: “Tính liên tục của đề án ra sao, liệu các em có mất hứng thú khi cấu trúc của các năm học không thay đổi? Lộ trình sẽ như thế nào, làm đại trà hay trong từng khối, từng lớp? Học sinh lớp 1, 2, 3 là giai đoạn giáo dục học tập cơ bản, lớp 4, lớp 5 mới là giai đoạn sâu hơn, các em có sự hứng thú, tìm hiểu hơn. Tôi cho rằng dù là phương pháp hiện đại nào cũng cần sử dụng cách dạy truyền thống và kết hợp các hình thức dạy học khác”.

Nhiều đại biểu tại hội thảo là trưởng, phó phòng GD-ĐT các quận, huyện và ban giám hiệu các trường tiểu học cho biết không nhận được tài liệu cụ thể về đề án trước và trong khi tham dự. Vì vậy nhiều câu hỏi về lộ trình, kinh phí, quy mô thực hiện này được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời nào từ các đơn vị liên quan.

LƯU TRANG

Đầu năm học mới: lấy ý kiến phụ huynh học sinh

Theo ông Hứa Ngọc Thuận – phó chủ tịch UBND TP.HCM, xuất phát từ tiếng nói của học sinh trong các buổi đối thoại với lãnh đạo thành phố về việc học sinh phải mang vác nặng khi đến trường, UBND TP đã chỉ đạo Sở GD-ĐT TP.HCM xây dựng đề án. “Sở GD-ĐT TP.HCM đã trình hai phương án, hôm nay chúng ta đã nghe trình bày một phương án, sẽ có những hội thảo tiếp theo để tiếp tục nghe một phương án nữa. Đề nghị sở tiếp thu các ý kiến để hoàn thiện đề án của mình và gửi đề án cho các nhà quản lý, thầy cô giáo. Vào đầu năm học mới 2014-2015 sẽ tổ chức lấy ý kiến phụ huynh về đề án này, xem phụ huynh có đồng thuận hay không, thực hiện như thế nào, phụ huynh nghèo thì sao…?” – ông Thuận cho biết.

Về sách giáo khoa điện tử

<báo tuổi trẻ>

Nhà xuất bản Giáo Dục VN có thể đưa các cuốn sách giáo khoa điện tử này lên các kho sách số khổng lồ hoặc tạo riêng kho sách số của mình để những ai cần có thể mua bất cứ cuốn nào. Đây mới là sự chuẩn xác của việc xuất bản và bán sách điện tử. Nhưng Nhà xuất bản Giáo Dục VN đã chưa làm như vậy (tôi nói “chưa” vì hi vọng… sẽ làm).

Bán bia kèm mồi

Khi đưa ra sản phẩm sách giáo khoa điện tử, Nhà xuất bản Giáo Dục VN đã “khóa” chặt trong một thiết bị phần cứng và vô hình trung tạo ra một cách bán hàng “bia kèm lạc (đậu phộng)” mà “bia” là sách giáo khoa điện tử và “lạc” là thiết bị phần cứng.

Cách bán “bia” cũng rất lạ. Không bán theo nhu cầu người “uống” mà bán trọn “thùng”, dù anh chỉ có khả năng uống 1 “cốc” (!). Như vậy học sinh THPT đã phải “uống thêm” tất cả các bộ sách của hai cấp học đã qua, giáo viên dạy toán phải “uống thêm” tất cả các môn khác… Nếu không “uống thêm” thì số “bia thừa” sẽ chỉ đổ đi!

Điều đặc biệt hơn là vì “bia” (kể cả “bia thừa”) mà người tiêu dùng đã phải mua “lạc” với giá cao (vì không có sự cạnh tranh nào về thiết bị độc quyền chứa “bia” này!). Vô hình trung sự độc quyền đã bước sang một lĩnh vực mới là thiết bị đọc sách điện tử.

Nghĩ gì khi đọc ý kiến của đại diện Nhà xuất bản Giáo Dục, ông Phạm Thúc Trương Lương: “Bất cứ doanh nghiệp nào có khả năng số hóa sách giáo khoa và đưa ra những sản phẩm khác đều có thể hợp tác với Nhà xuất bản Giáo Dục để làm, nhưng phải đáp ứng những tiêu chí như chứng minh được công nghệ áp dụng an toàn, bảo mật cao, sách giáo khoa sẽ không bị thay đổi, sửa chữa nội dung, bảo đảm sách sẽ không bị sao chép cho người khác?”.

Nếu ai am hiểu công nghệ thông tin và các thiết bị có thể đọc được sách điện tử thì có thể thấy rằng rất nhiều doanh nghiệp có khả năng này, không chỉ là Nhà xuất bản Giáo Dục VN hay Công ty CP Tinh Vân.

Việc bảo mật của sách điện tử trước hết là ở ngay việc bảo mật khi thiết kế phần mềm. Nếu Nhà xuất bản Giáo Dục VN là đơn vị phát hành sách điện tử thì việc này đầu tiên là của Nhà xuất bản Giáo Dục VN. Tất cả các nhà xuất bản trên thế giới khi xuất bản sách điện tử đều phải làm việc bảo mật.

Còn thiết bị nào bảo mật được sách điện tử là điều mà cả thế giới đã biết, tất cả đang có trong rất nhiều gia đình chứ không phải chỉ thiết bị Classbook mới bảo mật được nội dung!

Giải pháp nào?

Rất đơn giản, Nhà xuất bản Giáo Dục VN hãy là đơn vị xuất bản sách giáo khoa điện tử theo đúng nghĩa, nói ví von là cứ sản xuất và bán “bia”!

Sản xuất sách điện tử có mất công thêm về số hóa, tích hợp các media, bảo mật nhưng so với xuất bản sách in vẫn rẻ hơn nhiều khi không mất công in, không phải mua giấy in, không phải vận chuyển vất vả và đặc biệt là không bị tồn kho.

Cứ tính đại khái thì sách điện tử chắc rẻ hơn sách in. Nếu như vậy, các thiết bị đọc sách điện tử sẽ do người tiêu dùng quyết định, cũng như người uống “bia” không nhất thiết phải chọn “lạc Classbook” mà có thể chọn “mồi X”, “mồi Y”…, thậm chí chọn “mực khô”, “cá kèo”… miễn là “bia” được bảo mật là “bia”.

Nói thêm về “3 không” của thiết bị Classbook, cứ cho là “3 không” này là ưu việt (chưa chắc đã đúng, xin không bàn ở bài này!) thì lập tức trên thị trường sẽ có ngay các thiết bị có đủ “3 không” này! Khi đó Nhà xuất bản Giáo Dục VN cùng lắm là mang tiếng độc quyền sách chứ không mang tiếng thêm về độc quyền thiết bị bán kèm sách!

Nhu cầu uống “bia” đâu chỉ dừng lại ở một loại “bia sách giáo khoa” mà còn nhiều loại “bia” khác. Nhưng chuyện “bia” xin được bàn ở những dịp sau.

TRẦN PHƯƠNG NAM

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Sách điện tử (electronic book – eBook) là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường. Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng phân phát, chia sẻ trên Internet. Với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử là một lựa chọn tuyệt vời cho nhu cầu lưu trữ và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị điện toán cá nhân…

Như vậy khái niệm sách điện tử là “phương tiện số” không bao hàm các khái niệm về thiết bị để có thể đọc sách điện tử, mà các thiết bị này lại rất phong phú. Vậy sản phẩm Classbook của Nhà xuất bản Giáo Dục VN đưa ra thị trường không nên gọi là “sách giáo khoa điện tử” mà nên hiểu chính xác hơn là thiết bị có chứa sách giáo khoa điện tử!

 

Quyết định tạm dừng tổ chức bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho những người tốt nghiệp đại học muốn trở thành giáo viên THPT

Ở các nước có nền giáo dục phát triển thường sẽ không có các trường đại học sư phạm với chức năng đào tạo giáo viên dạy các cấp học trong hệ thống giáo dục. Các giáo viên hầu hết đều xuất phát từ một trường đại học chuyên ngành nào đó sau đó học qua một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Điều này sẽ giúp cho GV có được một kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực mà họ sẽ giảng dạy nhờ vậy chất lượng các bài giảng sẽ cao và có tính thực tiễn.

Trong trường hợp giáo viên được đào tạo tại các trường sư phạm như ở VN thì ngay từ đầu họ cũng đã được học tập trung vào các môn mà họ sẽ giảng trong nhà trường + các môn học liên quan tới kỹ năng giảng dạy. Ưu điểm của cách làm này là giáo viên sẽ hiểu rõ các bài giảng trong sgk mà họ sẽ giảng; nhược điểm là họ sẽ bị giới hạn trong các nội dung của SGK, không có kinh nghiệm thực tiễn như những người học các môn chuyên ngành đi làm một thời gian rồi quay lại làm nghề dạy học.

Phong NN IK600 o Bac Giang

Thời gian vừa qua Bộ GD cũng đã thấy rõ được lợi thế của cách làm này nên đã mở ra các khóa học bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và cho phép các cơ sở GD được tuyển những người có chứng chỉ. Điểm gây cản trở ở đây là bản thân lượng sinh viên ra trường ngành sư phạm đang thừa nên việc gia tăng thêm nguồn cung từ các ngành khác sẽ khiến cho áp lực tìm kiếm việc làm của cử nhân ngành sư phạm trở nên khó khăn hơn. Đây có thể là một lý do quan trọng khiến Bộ GD đã tạm thời dừng lại để tìm hướng đi mới:

QUYẾT ĐỊNH

Tạm dừng tổ chức bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm

cho những người tốt nghiệp đại học muốn trở thành giáo viên trung học phổ thông

—————————

 

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Căn cứ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;

Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;

Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục,

 

QUYẾT ĐỊNH:

            Điều 1. Tạm dừng tổ chức bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho những người tốt nghiệp đại học muốn trở thành giáo viên trung học phổ thông.

           Điều 2. Chấm dứt hiệu lực các quyết định, công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ hoặc cho phép cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho những người tốt nghiệp đại học muốn trở thành giáo viên trung học phổ thông.

            Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Đối với các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho những người tốt nghiệp đại học muốn trở thành giáo viên trung học phổ thông đã tuyển sinh trước ngày Quyết định này có hiệu lực thì các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếp tục thực hiện và cấp chứng chỉ theo quy định.

          Điều 4. Các ông (bà) Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

http://www.moet.gov.vn/?page=6.4&view=59

 

Hình ảnh phòng học ngoại ngữ IK600 tại Vĩnh Phúc

Giải pháp IK600 là giải pháp được nâng cấp từ những phòng lab truyền thống có từ trước đó. Do thấy được lợi ích trong việc luyện kỹ năng nghe nói (vốn là kỹ năng đang yếu của học sinh) nên công ty TBGD Hải Hà đã chủ động nghiên cứu cải tiến và đưa vào thị trường từ năm 2010. Cho tới nay số phòng ngoại ngữ Hiclass IK600 có mặt trên thị trường đã đạt con số 800 với diện phủ cả nước

ik600 1

Tỷ lệ sử dụng thường xuyên trên 8 tiết một tuần của toàn bộ các phòng được đầu tư luôn đạt trên 80%.Hầu hết các trường được đầu tư đều muốn được đầu tư thêm để tăng số tiết thực hành trên phòng ngoại ngữ. Mặc dù chức năng của phòng ngoại ngữ chuyên dụng không nhiều như phòng NN Hiclass X nhưng lại toàn là tính năng quan trọng và thường xuyên được sử dụng. Trình độ nghe nói của học sinh tăng tiến thấy rõ sau một thời gian học trên phòng này đó là nhận xét của giáo viên.

ik600 5

Chất lượng âm thanh của IK600 là một ưu điểm nổi bật nhất; giáo viên không cần phải nói to nhưng bất cứ học sinh nào trong lớp kể cả bàn cuối cùng cũng đều nghe rất trong và ấm.

ik600 2

Tương tự như giải pháp Hiclass X, giáo viên cũng sử dụng hai màn hình điều khiển trong đó một màn có giao diện điều khiển, giáo viên có thể chỉnh sửa các bài giảng của mình trên màn hình này; và một màn hình dùng để hiển thị cùng nội dung những gì đưa lên máy chiếu.

ik600 3

Hệ thống bàn ghế cũng được công ty Hải Hà cải tiến rất cho nhiều để có được kích thước, kiểu dáng thuận tiện như hiện nay

ik600 4

Hình ảnh phòng học ngoại ngữ Hiclass X

Phòng Ngoại ngữ Hiclass X là giải pháp mới nhất được phát triển trên kinh nghiệm 10 năm kinh doanh trong lĩnh vực Thiết bị thí nghiệm. Giải pháp này là sự kết hợp của cả phần cứng và phần mềm tương tự như Hiclass V tuy nhiên bổ sung rất nhiều chức năng dạy ngoại ngữ và giảm bớt cấu hình của phần cứng.

phong NN hiclass X

Một số tính năng của phòng ngoại ngữ liên quan tới truyền hình ảnh âm thanh sẽ do phần cứng đảm nhiểm, nhờ vậy hình ảnh được chuyển đi mượt mà rõ nét; khắc phục nhược điểm lớn nhất của các giải pháp ngoại ngữ chạy trên phần mềm.

phong NN hiclass  x 5

Phần mềm Hiclass X được cài trên cả máy giáo viên và máy học sinh có giá thành rẻ nhất hiện nay với đầy đủ các tính năng cần thiết cho dạy ngoại ngữ. Riêng phần mềm quản lý cài trên máy giáo viên được bảo vệ bản quyền bởi một usb cài tại máy giáo viên.

phong NN hiclass  x 2

Phần mềm cũng được chỉnh sửa theo các phản hồi của người dùng để đảm bảo rằng nó trở nên thân thiện nhất có thể đối với giáo viên và học sinh.

phong NN hiclass  x 3

Giáo viên sử dụng hai màn hình, một màn hình hiển thị giao diện điều khiển, chỉnh sửa bài giảng; một màn hình dùng để hiển thị thông tin sẽ đưa lên máy chiếu hoặc sẽ truyền tới màn hình của học sinh.

phong NN hiclass  x 6

Hệ thống bàn ghế cũng được công ty Hải Hà thiết kế dành riêng cho hệ thống phòng học Hiclass X.

phong NN hiclass  x 4