Lãng phí bảng tương tác: Hàng trăm tỉ đồng mà dùng như bảng đen

(Theo Thanhnienonline)

Áp dụng công nghệ vào việc dạy học là một chủ trương đúng. Vấn đề đặt ra ở đây là phải xuất phát từ thực tế nhu cầu để tránh lãng phí.

 Theo nhiều giáo viên, bảng tương tác ở các trường mầm non, tiểu học được sử dụng như là máy chiếu - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Theo nhiều giáo viên, bảng tương tác ở các trường mầm non, tiểu học được sử dụng như là máy
chiếu – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Chênh lệch quá lớn

Tại tọa đàm “Đổi mới trang thiết bị trường học – Những vấn đề đặt ra” diễn ra vào tháng 11.2013 do Sở GD-ĐT TP.HCM kết hợp cùng Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức, ông Lê Hoài Nam, Phó giám đốc sở, cho biết: “Đây là một trong những nội dung quan trọng của đề án nâng cao chất lượng giảng dạy, hiện đại hóa các thiết bị trường học do UBND TP.HCM phê duyệt. Ủy ban chỉ đạo Sở lên kế hoạch từng bước triển khai cho tất cả trường học, bậc học mà trước tiên là ở các trường mầm non và tiểu học trang bị với giá 181 triệu đồng/chiếc. Trong đó, thành phố sẽ hỗ trợ 50%, còn lại nhà trường vận động phụ huynh đóng góp”. Đơn vị trúng thầu mua sắm trang thiết bị này là Công ty CP Tiến bộ Quốc tế – AIC (trụ sở tại 69 Tuệ Tĩnh, Hà Nội).

Tuy nhiên, dư luận cho rằng mức giá trúng thầu mà đơn vị này thực hiện là quá cao so với giá gốc tại kho cũng như giá thực hiện của các đơn vị khác.

Tại Việt Nam, có nhiều đơn vị cùng cung cấp bảng tương tác với tính năng giống nhau, chất lượng không khác nhưng giá của thiết bị mà AIC phân phối độc quyền chênh lệch gấp nhiều lần so với các nhà cung cấp khác.

Báo Thanh Niên đã thu thập báo giá của một số đơn vị khác và thấy có sự khác biệt rất lớn. Cụ thể, chỉ tính theo giá tại kho (chưa tính giá áp dụng vào các trường), đã có sự chênh lệch gấp 2,2 – 3,6 lần (xem bảng 1).

Tại tọa đàm nêu trên, bà Hoàng Thị Thúy Nga, Giám đốc, đại diện phía nam Công ty AIC, cho biết kinh phí này bao gồm thuế nhập khẩu, phí vận chuyển bằng đường biển, phí lắp đặt, đào tạo, tập huấn, phí bảo hành 1 năm và kinh phí xã hội hóa trong 2 năm. Một bộ bảng tương tác bao gồm các máy móc liên quan như bảng trình chiếu, máy chiếu, chân máy, bộ chuyển, phần mềm… Tuy nhiên, theo các đơn vị chúng tôi tìm hiểu, giá các đơn vị đưa ra cũng bao gồm tất cả những hạng mục này.

Thử làm một phép tính để thấy sự chênh lệch lớn đến đâu và học sinh sẽ được hưởng lợi thế nào khi giá thành bộ bảng tương tác hạ xuống.

Theo bảng 2, với giả định theo giá các đơn vị khác cung cấp là 60 triệu đồng/bộ, còn nếu tận dụng được các thiết bị đã có sẵn như máy tính, projector thì chỉ khoảng 30 triệu/bộ. Chúng tôi giả định có 606 trường được trang bị bảng tương tác (theo kế hoạch của Sở GD-ĐT TP.HCM). Với khoảng 180 tỉ đồng và mức giá 181 triệu đồng/bộ theo giá của AIC thì mỗi trường chỉ có thể được trang bị tối đa là 2 bộ. Trong khi đó, nếu đầu tư với mức giá 60 triệu đồng/bộ thì mỗi trường có đến 5 bộ. Còn nếu biết tận dụng tiết kiệm dựa trên thiết bị đã có sẵn thì mỗi trường có thể có đến 10 bộ. Có nghĩa là khoảng 30 – 50% số lớp học trên một cấp sẽ được trang bị bảng tương tác. Lúc đó thì sức ảnh hưởng tích cực lên chất lượng giáo dục mới lớn. Với 2 bảng một trường cho hơn 20 lớp học thì sao có thể có hiệu quả giảng dạy tốt được, đấy là chưa kể về chất lượng phần mềm, nội dung.

Lớp học thông minh không chỉ dựa vào công nghệ

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng trong việc đầu tư bảng tương tác không phải là chọn bảng gì, công nghệ nào, mà là nội dung gì sẽ đi kèm với cái đó.

Một chuyên gia nghiên cứu về bảng tương tác nhận định rằng các trường học đang coi bảng tương tác như một giải pháp thần kỳ và đầu tư ồ ạt mà không nhận thức được một nhầm lẫn rất nguy hiểm rằng lớp học được trang bị công nghệ chưa hẳn là lớp học thông minh. “Một câu hỏi rất lớn cần được giải đáp là giáo viên sử dụng nội dung gì để dạy với hệ thống thiết bị đó?”, chuyên gia này đặt vấn đề. Không có bài giảng số thì đầu tư thiết bị phần cứng là vô nghĩa và lãng phí.

Hiện nay, các hình thức bài giảng đang được áp dụng trong trường học bao gồm: bài giảng PowerPoint giáo viên tự soạn, bài giảng trong sách giáo khoa được scan/đánh máy lại, một số video clips, bài học do giáo viên tự tìm trên internet; một số bài học tiếng Anh trong CD đính kèm các bộ sách… Các bài giảng này hầu như không có tính tương tác: bài học được chiếu lên bảng tương tác và học sinh viết chữ lên bảng. Như vậy bảng tương tác có chức năng như bảng truyền thống nhưng chi phí lại quá đắt.

Nếu không giải quyết được vấn đề thiết bị công nghệ đi kèm với bài giảng số, chỉ trong một thời gian ngắn, các thiết bị này sẽ bị bỏ quên và không được sử dụng (do thao tác phức tạp, mất thời gian mà hiệu quả chỉ như bảng truyền thống), gây lãng phí rất lớn. Đánh giá về điều này, một chuyên gia phân tích rằng việc sử dụng bảng tương tác và lớp học thông minh tại các nước khác hiệu quả là vì họ có nội dung số tốt chứ không phải vì công nghệ hiện đại và đắt đỏ. Chưa kể, công nghệ khoảng 2 năm đã lạc hậu mà chúng ta chọn giải pháp chi phí lớn như vậy thì quá phí phạm và xa xỉ.

“Tôi tin rằng, bảng tương tác hiện nay vẫn còn nằm “đắp chiếu” tại rất nhiều trường”, chuyên gia này kết luận. Và đây chính là thực tế hiện nay.

Công nghệ có phải là chiếc đũa thần ?

Giáo dục nước ta hiện nay dường như đang nằm trong tình trạng chờ đợi, trông cậy quá nhiều vào sự kỳ diệu của công nghệ, thiết bị hiện đại mà không cần biết đến điều kiện cơ bản, nhu cầu thực tế có phù hợp hay không.

Sau hơn nửa chặng đường thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020, ngày 19.5, lãnh đạo Bộ GD-ĐT chính thức đưa ra những nhận định về việc thực hiện đề án này. Sau rất nhiều phản hồi từ dư luận về sự lãng phí, không thiết thực, thiếu hiệu quả của đề án, đến giờ Bộ GD-ĐT chính thức thừa nhận: “Phân bổ kinh phí không cân đối giữa các hạng mục chi; sử dụng ngân sách lãng phí, đặc biệt ở khâu mua sắm thiết bị dạy học”.

Theo đó các địa phương đua nhau mua sắm thiết bị mới mà không rà soát, kiểm kê thiết bị đã có, mua các thiết bị công nghệ thông tin chỉ có phần cứng, không có các phần mềm ứng dụng đi kèm nên không sử dụng được hoặc không khai thác hết được tính năng của thiết bị. Trong khi đó, vấn đề đáng quan tâm hơn là chất lượng giáo viên để đáp ứng đề án lại không có hướng thực hiện hợp lý; dẫn đến hiện tượng chuẩn giáo viên tiếng Anh giảm so với lúc ban đầu và đi đến thực trạng hết sức lo ngại là có tỉnh đến nay không có một giáo viên đạt chuẩn theo yêu cầu. Bi đát hơn, tại hội nghị giao ban công tác triển khai thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 khối các trường ĐH, CĐ trực thuộc Bộ GD-ĐT diễn ra tại TP.HCM hồi đầu tháng 5, chính Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển thừa nhận có đến 90% giáo viên không đạt yêu cầu. Có giảng viên ĐH trình độ ngoại ngữ thực tế chỉ bằng yêu cầu đầu ra của học sinh tiểu học!

Trong tháng 4, xã hội đã một phen bất bình trước đề án đổi mới chương trình – sách giáo khoa mà lãnh đạo Bộ  GD-ĐT trình trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trước khi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận bác bỏ thông tin về kinh phí thì dự kiến chi tiêu cho đề án được công bố là hơn 34.000 tỉ đồng.

Trong đó chỉ có 105 tỉ đồng dành cho phần quan trọng nhất là biên soạn chương trình – sách giáo khoa, sách giáo viên. Còn đến 20.100 tỉ đồng (khoản kinh phí lớn nhất) dành cho trang thiết bị dạy học, dự kiến thay thế 50% thiết bị dạy học đang có. Trong khi đó, thực tế ai cũng thấy rằng trang thiết bị, đồ dùng dạy học được trang bị ở nhiều trường, nhiều nơi vẫn còn để trong kho, chưa qua sử dụng.

Chủ trương trang bị bảng tương tác của Sở GD-ĐT TP.HCM gây nhiều ý kiến phản bác một phần cũng vì lẽ này.

Không ai phủ nhận lợi ích của công nghệ, trang thiết bị hiện đại đối với việc dạy và học. Thế nhưng việc đầu tư mua sắm thiết bị công nghệ cần nằm trong một chiến lược tổng thể và phải có mục tiêu rõ ràng. Chứ không nên theo kiểu làm chắp vá như hiện nay khiến người dân không thể không hoài nghi về những tư lợi của lãnh đạo các cấp trong ngành giáo dục dưới vỏ bọc công nghệ. Ở đây, chúng tôi muốn lặp lại nhận định của một chuyên gia về công nghệ rằng mục đích của công nghệ là để giảm chi phí giảng dạy chứ không làm giáo dục trở nên đắt đỏ và xa xỉ.

Thùy Ngân

Bảng 1

Bảng 1

Bảng 2

Bảng 2

Đăng Nguyên

Advertisements

Kiện toàn tổ chức bộ máy và bổ nhiệm cán bộ quản lý Đại học Huế

GD&TĐ – Đại học Huế đã tổ chức công bố các quyết định kiện toàn bộ máy và bổ nhiệm cán bộ quản lý của Đại học Huế.

Tại Lễ công bố, các văn bản liên quan tới việc kiện toàn bộ máy và bổ nhiệm cán bộ do Giám đốc Đại học Huế, PGS.TS Nguyễn Văn Toàn ký  đã được công bố: 

Le cong bo QD_CJKZ

Việc đổi tên Ban Tổ chức Nhân sự Đại học Huế thành Ban Tổ chức cán bộ Đại học Huế;  việc đổi tên Ban Khoa học Công nghệ thành Ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Đại học Huế;  việc đổi tên Ban Công tác Sinh viên thành Ban Công tác Học sinh Sinh viên Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Thanh tra Đại học Huế trên cơ sở chia tách Ban Thanh tra Pháp chế – Thi đua Khen thưởng Đại học Huế;  việc thành lập Ban Pháp chế – Thi đua Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Đào tạo Đại học Huế trên cơ sở sáp nhập Ban Đào tạo Đại học Đại học Huế và Ban Đào tạo Sau đại học Đại học Huế;

Việc thành lập Ban Cơ sở vật chất Đại học Huế trên cơ sở sáp nhập Ban Quản lý Dự án Xây dựng Đại học Huế và Ban Quản trị Cơ sở vật chất Đại học Huế (các QĐ có hiệu lực từ ngày 6/6/2014)

Trước đó, Giám đốc Đại học Huế cũng đã ký Quyết định số 808/ QĐ ĐHH về việc thành lập Viện Công nghệ Sinh học Đại học Huế là đơn vị trực thuộc Đại học Huế, có chức năng, nhiệm vụ được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của Viện, của Đại học Huế và các quy định của pháp luật hiện hành kể từ ngày 2/5/2014.

Cũng trong  Ngày 12/5/2014, Giám đốc Đại học Huế đã ký quyết định 930/QĐ ĐHH về việc chuyển đổi mô hình quản lý Tạp chí Khoa học Đại học Huế thành đơn vị trực thuộc Đại học Huế. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.

Cùng với các quyết định đổi tên, thành lập các ban, đơn vị trực thuộc, Giám đốc Đại học Huế đã có các quyết định bổ nhiệm cán bộ quản lý nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Thanh Huế (báo GD&TĐ ngày 13/5/2014)

Mạnh tay đầu tư cơ sở vật chất

Bên cạnh việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho GV ngoại ngữ, nhiều địa phương đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở các trường phổ thông. Môi trường học tập hiện đại, sôi động kích thích tinh thần tự học, chủ động tiếp thu kiến thức của học sinh.

ik600 2

Thuận lợi khi thí điểm

Theo ông Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở GD&ĐT Đà Nẵng, hiện toàn thành phố đã đầu tư được 56 phòng học ngoại ngữ tại các trường học cùng phần mềm xây dựng ngân hàng đề thi, câu hỏi trắc nghiệm. chỉ tính riêng đầu năm học 2013 – 2014 này, Đà Nẵng đã đưa vào sử dụng 21 phòng học ngoại ngữ cho các trường phổ thông, với tổng số tiền gần 5 tỷ đồng từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu năm 2013. Nói về việc được đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại cho phòng ngoại ngữ với kinh phí gần 290 triệu đồng, ông Võ Xuân Tấn – Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Văn Cừ (quận Sơn Trà) cho biết: “Lâu nay nhà trường luôn ao ước có một phòng ngoại ngữ để nâng cao chất lượng dạy và học. Thế nhưng, đây là bài toán khó của nhà trường vì kinh phí eo hẹp. Nay được Sở GD-ĐT đầu tư phòng học khang trang, hiện đại như vậy, thầy và trò nhà trường rất phần khởi”. Trường Trần Bình Trọng là một trong những trường tiểu học được Sở GD-ĐT đầu tư phòng học ngoại ngữ khá sớm trên địa bàn quận Liên Chiểu từ năm 2012. Ông Nguyễn Hỷ – Hiệu trưởng Trường tiểu học Trần Bình Trọng – đánh giá việc đưa vào sử dụng phòng học ngoại ngữ tại trường trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả giáo dục khá tốt. Cứ đến giờ học ngoại ngữ, học sinh thích thú, chủ động hơn trong việc nắm bắt kiến thức. “Chỉ sau một năm sử dụng phòng học ngoại ngữ, chất lượng giáo dục của nhà trường đã nâng lên rõ rệt”, ông Hỷ khẳng định.

Hiện quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) đang triển khai thí điểm dạy và học ngoại ngữ bắt buộc đối với HS lớp 6,7 tại 3 trường THCS Lê Lợi, THCS Trần Đại Nghĩa, và Huỳnh Bá Chánh. Ông Nguyễn Lâm – Trưởng phòng GD&ĐT Ngũ Hành Sơn cho biết, nhưng HS theo học chương trình thí điểm đều được khảo sát đầu vào, mỗi trường chỉ có 1 lớp/1 khối. Ở các trường này đều được trang bị một phòng học ngoại ngữ được đầu tư rất hiện đại từ chương trình mục tiêu. Chính vì vậy, HS rất thuận lợi trong việc rèn được 4 kỹ năng nghe – nói – đọc – viết.

Quảng Bình mới chỉ thực hiện triển khai thí điểm dạy tiếng Anh đối với bậc THCS theo chương trình lớp 6, lớp 7 tại một số trường trên địa bàn thành phố Đồng Hới và huyện Bố Trạch nhưng cũng đã đầu tư trang thiết bị cho 41 phòng học ngoại ngữ cho các đơn vị. Việc rà soát, đánh giá năng lực tiếng Anh đối với giáo viên đang giảng dạy tại các trung tâm GDTX, TCCN và trung tâm ngoại ngữ trong tỉnh cũng đã được tiến hành xong.

Nhiều giáo viên dạy môn ngoại ngữ cấp phổ thông ở các trường học cũng có chung nhận xét. Việc ứng dụng CNTT, sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học trong bộ môn Ngoại ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức. Các thiết bị dạy học hiện đại tạo ra sự tương tác hiệu quả giữa GV và HS, giúp các em hứng thú, chủ động tiếp thu kiến thức. Với mô hình phòng học ngoại ngữ này, các em có thể học nhóm, thảo luận sôi nổi, đưa ra chính kiến của mình, xem các chương trình hội thoại, cơ hội rèn luyện các kỹ năng nghe – nói vì vậy cũng nhiều hơn trước…

Bài toán đội ngũ

Khó khăn lớn nhất, ngoài bài toán kinh phí, theo ông Lê Trung Chinh, qua thực tế thì việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho giáo viên không thể một sớm, một chiều, nhất là với các GV lớn tuổi. Đồng ý với quan điểm này, ông Nguyên Lâm – Trưởng phòng GD&ĐT Ngũ Hành Sơn nhận xét: “Chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngôn ngữ cho GV Tiếng Anh rất hay với điều kiện được vận dụng cho những đối tượng có năng lực, trình độ và yêu công việc. Với những GV lớn tuổi, theo đuổi được chương trình này thì rất vất vả”. Việc GV vừa tham gia bồi dưỡng vừa gánh vác công việc chuyên môn ở trường nên cũng gặp nhiều khó khăn. Điều này thể hiện rõ qua buổi hội thảo vào đầu năm 2013 do Viện Anh ngữ Đà nẵng –  ĐH Queensland, Cambridge ESOL Việt Nam và Sở GD&ĐT tổ chức nhằm phục vụ cho kỳ thi sát hạch lấy chứng chỉ FEC quốc tế – tương đương với cấp độ B2 theo CEFR, khung tham chiếu châu Âu. Có không ít GV cho rằng rất khó để đảm bảo tính chuyên cần khi tham gia chương trình bồi dưỡng, dù lịch học chỉ 2 buổi/tuần. Nhiều GV vẫn phải dạy trên dưới 20 tiết/tuần ở trường nên việc đi học đã gây ít nhiều ảnh hưởng, xáo trộn, có quá ít thời gian để đầu tư cho bài vở.

Trường THPT chuyên Quảng Bình được xem là một trong nhưng trường đi đầu trong thí điểm dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh. Từ thành công của hai tiết dạy thí điểm tại một lớp chuyên toán và không chuyên, dự định trong thời gian tới, tổ Toán của nhà trường sẽ tiếp tục dạy thử nghiệm chương trình tự chọn, đồng thời triển khai các bài kiểm tra 15 phút và làm bài tập bằng tiếng Anh để học sinh tiếp tục làm quen với hình thức học tập mới mẻ này. Dự kiến năm học 2014 – 2015, việc dạy và học các môn KHTN bằng tiếng Anh sẽ mở rộng sang các môn khác như Vật lý, Sinh học, Hóa học, Tin học, … Trường THPT chuyên Quảng Bình cũng đang tiến hành tổ chức các lớp tiếng Anh giao tiếp tại trường với sự tham gia của GV nước ngoài nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Anh cho đội ngũ GV, sẵn sàng cho việc triển khai thực hiện các nội dung đề án …

Có một băn khoăn khác về phía phụ huynh có con em theo học chương trình dạy và học ngoại ngữ bắt buộc đó là theo chương trình Anh văn 10 năm (lớp 3 – lớp 12), thì khi lên những lớp lớn hơn ở THCS và THPT liệu có được cùng ngồi chung với nhau để cùng học chung chương trình, hay lại bị phân tán vì trình độ học tập của các em ở mỗi trường, lớp, quận, đều không thể đồng nhất. Tại Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chủ trương của quận sẽ cho thêm một trường tiểu học để học chung chương trình thí điểm này và sẽ gom học sinh của hai trường này về THCS Nguyễn Văn Linh nếu các em lên cấp THCS để các em tiếp tục học chung chương trình Anh văn thí điểm năm thứ 4. Đây cũng là bài toán mà các cấp quản lý ngành GD&ĐT cũng phải tính đến trước khi quá muộn.

(theo Hà Nguyên, báo Giáo dục và Phát triển, ngày 30 tháng 4 năm 2014)

KHUNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ 6 BẬC DÙNG CHO VIỆT NAM

KHUNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ 6 BẬC DÙNG CHO VIỆT NAM

 (Ban hành kèm theo Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT

ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

I. Mục đích

  1. Làm căn cứ thống nhất về yêu cầu năng lực cho tất cả ngoại ngữ được giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân.
  2. Làm căn cứ xây dựng chương trình, biên soạn hoặc lựa chọn giáo trình, sách giáo khoa, kế hoạch giảng dạy, các tài liệu dạy học ngoại ngữ khác và xây dựng tiêu chí trong kiểm tra, thi và đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học và trình độ đào tạo.
  3. Làm căn cứ cho giáo viên, giảng viên lựa chọn và triển khai nội dung, cách thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá để người học đạt được yêu cầu của chương trình đào tạo.
  4. Giúp người học hiểu được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ năng lực ngoại ngữ và tự đánh giá năng lực của mình.
  5. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi giáo dục, công nhận văn bằng, chứng chỉ với các quốc gia ứng dụng Khung tham chiếu chung Châu Âu (CEFR).

II. Đối tượng sử dụng

Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (sau đây gọi là Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam, viết tắt: KNLNNVN) áp dụng cho các chương trình đào tạo ngoại ngữ, các cơ sở đào tạo ngoại ngữ và người học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

III. Mức độ tương thích giữa Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam và Khung tham chiếu chung Châu Âu

KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6 và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR). Cụ thể như sau:

KNLNNVN CEFR
Sơ cấp Bậc 1 A1
Bậc 2 A2
Trung cấp Bậc 3 B1
Bậc 4 B2
Cao cấp Bậc 5 C1
Bậc 6 C2

IV. Nội dung Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam

  1. Mô tả tổng quát
  Các bậc Mô tả tổng quát
Sơ cấp Bậc 1 Có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể. Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/bạn bè v.v… Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ.
Bậc 2 Có thể hiểu được các câu và cấu trúc được sử dụng thường xuyên liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản (như các thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm). Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày. Có thể mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu.
Trung cấp Bậc 3 Có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí, v.v… Có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra khi đến khu vực có sử dụng ngôn ngữ đó. Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm. Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, giấc mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình.
Bậc 4 Có thể hiểu ý chính của một văn bản phức tạp về các chủ đề cụ thể và trừu tượng, kể cả những trao đổi kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân. Có thể giao tiếp ở mức độ trôi chảy, tự nhiên với người bản ngữ. Có thể viết được các văn bản rõ ràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và có thể giải thích quan điểm của mình về một vấn đề, nêu ra được những ưu điểm, nhược điểm của các phương án lựa chọn khác nhau.
Cao cấp Bậc 5 Có thể hiểu và nhận biết được hàm ý của các văn bản dài với phạm vi rộng. Có thể diễn đạt trôi chảy, tức thì, không gặp khó khăn trong việc tìm từ ngữ diễn đạt. Có thể sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả phục vụ các mục đích xã hội, học thuật và chuyên môn. Có thể viết rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết về các chủ đề phức tạp, thể hiện được khả năng tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối câu và các công cụ liên kết.
Bậc 6 Có thể hiểu một cách dễ dàng hầu hết văn nói và viết. Có thể tóm tắt các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại thông tin và trình bày lại một cách logic. Có thể diễn đạt tức thì, rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được các ý nghĩa tinh tế khác nhau trong các tình huống phức tạp.


2. Mô tả các kỹ năng

2.1. Mô tả kỹ năng nghe

2.1.1. Đặc tả tổng quát cho kỹ năng nghe

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể theo dõi và hiểu được lời nói khi được diễn đạt chậm, rõ ràng, có khoảng ngừng để kịp thu nhận và xử lý thông tin.
Bậc 2 – Có thể hiểu những cụm từ và cách diễn đạt liên quan tới nhu cầu thiết yếu hằng ngày (về gia đình, bản thân, mua sắm, nơi ở, học tập và làm việc…) khi được diễn đạt chậm và rõ ràng.- Có thể hiểu được ý chính trong các giao dịch quen thuộc hằng ngày khi được diễn đạt chậm và rõ ràng.
Bậc 3 – Có thể hiểu được những thông tin hiện thực đơn giản được diễn đạt rõ ràng bằng giọng chuẩn về các chủ đề liên quan tới cuộc sống và công việc thường ngày.- Có thể xác định được ý chính trong các bài nói được trình bày rõ ràng về những chủ đề thường gặp trong cuộc sống, công việc hay trường học, kể cả các câu chuyện khi được diễn đạt rõ ràng bằng phương ngữ chuẩn phổ biến.
Bậc 4 – Có thể nghe hiểu các bài nói trực tiếp hoặc ghi lại về các chủ đề quen thuộc và không quen thuộc trong cuộc sống cá nhân, xã hội, học tập hay nghề nghiệp khi được diễn đạt rõ ràng và bằng giọng chuẩn.- Có thể hiểu ý chính của các bài nói phức tạp cả về nội dung và ngôn ngữ, được truyền đạt bằng ngôn ngữ chuẩn mực về các vấn đề cụ thể hay trừu tượng (bao gồm cả những cuộc thảo luận mang tính kỹ thuật) trong lĩnh vực chuyên môn của mình.- Có thể theo dõi được bài nói dài cũng như các lập luận phức tạp về các chủ đề quen thuộc khi bài nói có cấu trúc rõ ràng.
Bậc 5 – Có thể theo dõi và hiểu được những bài nói dài về những chủ đề phức tạp và trừu tượng ngay cả khi cấu trúc bài nói không rõ ràng và mối quan hệ giữa các ý không tường minh.- Có thể theo dõi và hiểu được các cuộc trò chuyện sôi nổi giữa những người bản ngữ.- Có thể theo dõi và hiểu được những tranh luận hay lập luận mang tính trừu tượng.- Có thể hiểu được những thông tin cần thiết khi nghe các thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Bậc 6 – Có thể theo dõi và hiểu được các bài giảng hay những bài thuyết trình chuyên ngành có sử dụng nhiều lối nói thông tục, chứa đựng các yếu tố văn hóa hoặc các thuật ngữ không quen thuộc.- Có thể hiểu được những vấn đề tinh tế, phức tạp hoặc dễ gây tranh cãi như pháp luật, tài chính, thậm chí có thể đạt tới trình độ hiểu biết của chuyên gia.

3

– Có thể nghe hiểu được mọi điều một cách dễ dàng theo tốc độ nói của người bản ngữ.

2.1.2. Nghe hội thoại giữa những người bản ngữ hay những người không trực tiếp đối thoại

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể hiểu được những đoạn hội thoại rất ngắn, cấu trúc rất đơn giản, tốc độ nói chậm và rõ ràng về các chủ đề cá nhân cơ bản, trường lớp học và những nhu cầu thiết yếu.
Bậc 2 – Có thể xác định được chủ đề của các hội thoại diễn ra chậm và rõ ràng.
Bậc 3 – Có thể hiểu được ý chính của các hội thoại mở rộng nếu lời nói được diễn đạt rõ ràng bằng ngôn ngữ chuẩn mực.
Bậc 4 – Có thể nắm bắt phần lớn nội dung những hội thoại hay độc thoại mặc dù có thể gặp khó khăn để hiểu toàn bộ các chi tiết của một số hội thoại hay độc thoại nếu người nói không điều chỉnh ngôn ngữ cho phù hợp.- Có thể theo dõi và hiểu được các hội thoại hay độc thoại sôi nổi của người bản ngữ.
Bậc 5 – Có thể theo dõi và hiểu được các hội thoại phức tạp giữa người bản ngữ ngay cả khi nội dung là những chủ đề trừu tượng, phức tạp, không quen thuộc.
Bậc 6 – Có thể theo dõi và dễ dàng hiểu được các cuộc giao tiếp, chuyện trò phức tạp giữa người bản ngữ trong các cuộc tranh luận, thảo luận nhóm, ngay cả khi nội dung là những chủ đề trừu tượng, phức tạp, không quen thuộc và sử dụng nhiều thành ngữ.

2.1.3. Nghe trình bày và hội thoại

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 2 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 3 – Có thể theo dõi và hiểu được dàn ý của các bài nói ngắn, đơn giản về các chủ đề quen thuộc nếu được diễn đạt theo giọng chuẩn, rõ ràng.- Có thể theo dõi và hiểu được các bài giảng hay cuộc nói chuyện về đề tài quen thuộc hoặc trong phạm vi chuyên môn của mình nếu được diễn đạt một cách đơn giản với cấu trúc rõ ràng.
Bậc 4 – Có thể theo dõi và hiểu được các ý chính trong các bài giảng, bài phát biểu, bài tường thuật và các dạng trình bày khác trong học thuật hay nghề nghiệp có sử dụng ngôn ngữ và ý tưởng phức tạp.
Bậc 5 – Có thể theo dõi và hiểu được một cách khá dễ dàng hầu hết các bài giảng cũng như các cuộc thảo luận và tranh luận.
Bậc 6 – Có thể theo dõi, hiểu được những bài giảng và thuyết trình mang tính chuyên ngành, có sử dụng nhiều thành ngữ và phương ngữ.

2.1.4.Nghe thông báo, hướng dẫn, chỉ dẫn

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể hiểu, làm theo những chỉ dẫn ngắn và đơn giản được truyền đạt chậm và cẩn thận.
Bậc 2 – Có thể hiểu được ý chính trong các thông báo hay tin nhắn thoại ngắn, rõ ràng, đơn giản.- Có thể hiểu những hướng dẫn chỉ đường, sử dụng phương tiện giao thông công cộng đơn giản.
Bậc 3 – Có thể hiểu, làm theo được các thông tin kỹ thuật đơn giản như hướng dẫn vận hành các thiết bị thông dụng.- Có thể hiểu các chỉ dẫn chi tiết (ví dụ như các hướng dẫn về giao thông).
Bậc 4 – Có thể hiểu các thông báo và tin nhắn về một đề tài cụ thể hay trừu tượng được diễn đạt bằng phương ngữ chuẩn với tốc độ nói bình thường.
Bậc 5 – Có thể hiểu các thông tin cụ thể nhất định từ các thông báo công cộng với âm thanh có nhiễu như ở nhà ga, sân bay v.v…- Có thể hiểu các thông tin kỹ thuật phức tạp như hướng dẫn vận hành, chi tiết kỹ thuật, các sản phẩm và dịch vụ quen thuộc.
Bậc 6 – Có thể hiểu mọi thông báo, hướng dẫn dù nghe trực tiếp hay qua các phương tiện truyền thông mà không gặp bất cứ khó khăn gì ngay cả khi xung quanh khá ồn ào.

2.1.5. Nghe đài và xem truyền hình

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 2 – Có thể xác định thông tin chính của các bản tin trên đài và truyền hình tường thuật các sự kiện, tai nạn v.v…
Bậc 3 – Có thể hiểu các ý chính của các chương trình điểm tin trên đài phát thanh và những nội dung phỏng vấn, phóng sự, phim thời sự có hình ảnh minh họa cho nội dung cốt truyện được diễn đạt rõ ràng và bằng ngôn ngữ đơn giản.- Có thể nắm bắt được các ý chính trong các chương trình phát thanh và truyền hình về các đề tài quen thuộc và được diễn đạt tương đối chậm và rõ ràng.- Có thể hiểu một phần tương đối nội dung các chương trình phát thanh và truyền hình về các chủ điểm mà bản thân quan tâm, ví dụ như các cuộc phỏng vấn, các bài giảng ngắn và các bản tin được diễn đạt tương đối chậm và rõ ràng.
Bậc 4 – Có thể hiểu được hầu hết các chương trình tài liệu trên đài phát thanh và truyền hình.- Có thể nhận ra tâm trạng, giọng điệu của người nói.- Có thể hiểu các văn bản ghi âm, truyền hình sử dụng ngôn ngữ chuẩn thường gặp trong đời sống xã hội, nghề nghiệp hay học thuật. Xác định được quan điểm và thái độ của người nói cũng như nội dung thông tin được phát ngôn.
Bậc 5 – Có thể hiểu được nhiều loại tài liệu phát thanh, truyền hình có sử dụng ngôn ngữ không chuẩn mực; nhận biết được các chi tiết tinh tế bao gồm cả thái độ và mối quan hệ hàm ẩn giữa những người giao tiếp.
Bậc 6 – Có thể thưởng thức tất cả các chương trình phát thanh hay truyền hình mà không cần tới bất kỳ sự cố gắng nào.

2.2. Mô tả kỹ năng nói

2.2.1. Đặc tả tổng quát cho kỹ năng nói độc thoại

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể đưa ra và hồi đáp các nhận định đơn giản liên quan đến các chủ đề rất quen thuộc như bản thân, gia đình, trường lớp học hoặc nhu cầu giao tiếp tối thiểu hằng ngày.
Bậc 2 – Có thể giao tiếp một cách đơn giản và trực tiếp về các chủ đề quen thuộc hằng ngày liên quan đến công việc và thời gian rảnh rỗi.- Có thể truyền đạt quan điểm, nhận định của mình trong các tình huống xã giao đơn giản, ngắn gọn nhưng chưa thể duy trì được các cuộc hội thoại.
Bậc 3 – Có thể giao tiếp tương đối tự tin về các vấn đề quen thuộc liên quan đến sở thích, học tập và việc làm của mình. Có thể trao đổi, kiểm tra và xác nhận thông tin, giải thích vấn đề nảy sinh. Có thể trình bày ý kiến về các chủ đề văn hóa như phim ảnh, sách báo, âm nhạc, v.v…- Có thể tham gia đàm thoại về các chủ đề quen thuộc mà không cần chuẩn bị, thể hiện quan điểm cá nhân và trao đổi thông tin về các chủ đề quen thuộc liên quan đến sở thích cá nhân, học tập, công việc hoặc cuộc sống hằng ngày.
Bậc 4 – Có thể giao tiếp độc lập về nhiều chủ đề, có lập luận và cấu trúc mạch lạc, kết nối giữa các ý trong trình bày, sử dụng ngôn từ trôi chảy, chính xác.- Có thể trình bày về ý nghĩa của một sự kiện hay trải nghiệm của cá nhân, giải thích và bảo vệ quan điểm của mình một cách rõ ràng bằng lập luận chặt chẽ và phù hợp.
Bậc 5 – Có thể diễn đạt ý một cách trôi chảy và tức thời, gần như không gặp khó khăn. Có thể sử dụng tốt một vốn từ vựng lớn, đủ khả năng xử lý khi thiếu từ bằng lối nói vòng vo.
Bậc 6 – Có thể truyền đạt chính xác các sắc thái ý nghĩa tinh tế bằng cách sử dụng nhiều loại hình bổ nghĩa với độ chính xác cao.- Sử dụng thành thạo các cách diễn đạt kiểu thành ngữ hoặc thông tục với nhận thức rõ về các tầng nghĩa. Có thể đổi cách diễn đạt để tránh gặp khó khăn khi giao tiếp và thể hiện một cách trôi chảy đến mức người đối thoại khó nhận ra điều đó.

2.2.2. Nói độc thoại: Mô tả kinh nghiệm

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể mô tả về người nào đó, nơi họ sống và công việc của họ.
Bậc 2 – Có thể mô tả về gia đình, điều kiện sống, trình độ học vấn, công việc hiện tại và công việc gần nhất trước đó.- Có thể mô tả những những hoạt động trong cuộc sống thường ngày như tả người, địa điểm, công việc và kinh nghiệm học tập.- Có thể mô tả các kế hoạch, thói quen hằng ngày, các hoạt động trong quá khứ và kinh nghiệm cá nhân.- Có thể diễn đạt đơn giản về điều mình thích hay không thích.
Bậc 3 – Có thể mô tả đơn giản về các chủ đề quen thuộc trong lĩnh vực quan tâm.- Có thể trình bày, mô tả bằng các diễn ngôn đơn giản về một câu chuyện ngắn có nội dung gần gũi thuộc các chủ đề quen thuộc.- Có thể kể chi tiết về kinh nghiệm bản thân, cốt truyện của một cuốn sách, bộ phim hay và cảm xúc của mình.- Có thể nói về những ước mơ, hy vọng và ước vọng, các sự kiện có thật hoặc giả tưởng.
Bậc 4 – Có thể mô tả rõ ràng, chi tiết về các chủ đề liên quan hoặc thuộc lĩnh vực quan tâm.
Bậc 5 – Có thể mô tả rõ ràng, chi tiết về các chủ đề phức tạp.- Có thể mô tả, tường thuật tỉ mỉ, tích hợp các chủ đề nhỏ, phát triển các ý cụ thể thành những kết luận phù hợp.
Bậc 6 – Có thể mô tả rõ ràng, chi tiết, trau chuốt và trôi chảy giúp người nghe dễ hiểu và dễ nhớ.

2.2.3. Nói độc thoại: Lập luận

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 2 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 3 – Có thể tranh luận một cách rõ ràng, củng cố quan điểm của mình bằng những lập luận và các ví dụ minh họa thích hợp.- Có thể tạo ra chuỗi lập luận hợp lý.- Có thể tranh luận cho một quan điểm cụ thể bằng cách đưa ra những lập luận ưu, khuyết điểm của mỗi lựa chọn.
Bậc 4 – Có thể lập luận một cách có hệ thống, nhấn mạnh được những điểm quan trọng bằng những chi tiết minh họa liên quan.
Bậc 5 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 6 – Không có đặc tả tương ứng.

2.2.4. Nói độc thoại: Trình bày trước người nghe

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể đọc những đoạn ngắn đã chuẩn bị trước, ví dụ: giới thiệu một diễn giả, đề nghị nâng ly chúc mừng.
Bậc 2 – Có thể trình bày ngắn gọn thông tin đã được chuẩn bị trước về một chủ đề quen thuộc thường ngày, trình bày được lý do và lý giải một cách ngắn gọn cho những quan điểm, kế hoạch và hành động.- Có thể trả lời những câu hỏi trực tiếp với điều kiện có thể được hỏi lại và người nghe hỗ trợ giúp diễn đạt cách trả lời.
Bậc 3 – Có thể trình bày những bài thuyết trình đơn giản, được chuẩn bị trước về một chủ đề quen thuộc hoặc lĩnh vực bản thân quan tâm một cách rõ ràng để người nghe dễ dàng theo dõi vì những điểm chính đã được giải thích với độ chính xác hợp lý.- Có thể trả lời những câu hỏi về bài trình bày tuy nhiên đôi khi vẫn phải hỏi lại khi câu hỏi quá nhanh.
Bậc 4 – Có thể trình bày một cách rõ ràng những bài thuyết trình đã được chuẩn bị, nêu được lý do ủng hộ hay phản đối một quan điểm cụ thể, đưa ra những lợi thế và bất lợi của những lựa chọn khác nhau.- Có thể trả lời các câu hỏi sau khi trình bày một cách lưu loát, tự nhiên, không gây căng thẳng cho bản thân hay cho người nghe.- Có thể trình bày những bài thuyết trình phức tạp, trong đó nhấn mạnh được những điểm chính và có chi tiết minh họa rõ ràng.
Bậc 5 – Có thể trình bày một bài thuyết trình một cách rõ ràng, được tổ chức một cách khoa học về một chủ đề phức tạp, mở rộng và củng cố ý kiến của bản thân bằng những lập luận và các ví dụ minh họa liên quan.- Có thể kiểm soát xúc cảm tốt khi nói, thể hiện một cách tự nhiên và hầu như không cần phải nỗ lực.
Bậc 6 – Có thể trình bày một chủ đề phức tạp một cách tự tin và rành mạch cho một đối tượng không quen thuộc bằng cách sử dụng cấu trúc và điều chỉnh cuộc nói chuyện một cách linh hoạt theo nhu cầu của người nghe.

2.2.5. Đặc tả tổng quát cho kỹ năng nói tương tác

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể giao tiếp ở mức độ đơn giản với tốc độ nói chậm và thường xuyên phải yêu cầu người đối thoại với mình nhắc lại hay diễn đạt lại. Có thể hỏi và trả lời những câu hỏi đơn giản, khởi đầu và trả lời những câu lệnh đơn giản thuộc những lĩnh vực quan tâm và về những chủ đề quen thuộc.
Bậc 2 – Có thể giao tiếp về những vấn đề đơn giản, trao đổi thông tin đơn giản và trực tiếp về những vấn đề quen thuộc liên quan tới công việc và cuộc sống hằng ngày nhưng chưa thể duy trì hội thoại theo cách riêng của mình.- Có thể giao tiếp một cách dễ dàng bằng những hội thoại ngắn trong những tình huống giao tiếp xác định mà không cần nỗ lực quá mức.
Bậc 3 – Có thể sử dụng ngôn ngữ đơn giản để giải quyết hầu hết các tình huống có thể phát sinh trong khi đi du lịch.- Có thể bắt đầu một cuộc hội thoại về những chủ để quen thuộc mà không cần chuẩn bị trước, thể hiện những quan điểm cá nhân và trao đổi thông tin về những chủ đề quen thuộc về cuộc sống thường ngày.- Có thể giao tiếp tương đối tự tin về những vấn đề quen thuộc và không quen thuộc liên quan tới lĩnh vực chuyên môn hoặc quan tâm của mình. Có thể trao đổi, kiểm tra và xác nhận thông tin, xử lý các tình huống ít gặp và giải quyết vấn đề. – Có thể bày tỏ suy nghĩ về những chủ đề văn hóa, có tính trừu tượng như phim ảnh, âm nhạc.
Bậc 4 – Có thể giao tiếp khá lưu loát, tự nhiên, duy trì quan hệ với người bản ngữ mà không làm khó cho cả hai bên. Có thể giải trình ý quan trọng thông qua kinh nghiệm cá nhân, lý giải và duy trì quan điểm một cách rõ ràng với những lập luận và minh chứng liên quan.- Có thể sử dụng ngôn ngữ thành thạo, chính xác và hiệu quả về các chủ đề chung, các chủ đề về giải trí, nghề nghiệp và học tập, tạo ra mối liên kết giữa các ý một cách rõ ràng.- Có thể giao tiếp một cách tự nhiên, sử dụng tốt cấu trúc ngữ pháp và không gặp khó khăn khi diễn đạt phù hợp với hoàn cảnh.
Bậc 5 – Có thể thể hiện bản thân một cách trôi chảy, tự nhiên và không cần phải quá nỗ lực. Làm chủ được vốn từ vựng và có thể dễ dàng biến báo trong những tình huống quanh co. Không còn phải tìm kiếm cách diễn đạt hay tìm cách né tránh câu hỏi.
Bậc 6 – Có thể sử dụng thành ngữ, các lối nói thông tục và ý thức được các nghĩa bóng. Có thể truyền đạt những sắc thái ý nghĩa bằng cách sử dụng các sắc thái biểu cảm chính xác và hợp lý. Có thể thay đổi cách diễn đạt một cách trôi chảy đến mức người đối thoại không nhận ra điều đó.

2.2.6. Nói tương tác: Hội thoại

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể giới thiệu, chào hỏi và tạm biệt trong giao tiếp cơ bản.- Có thể hỏi thăm tình hình của mọi người và phản hồi với các tin tức đó.
Bậc 2 – Có thể xử lý các giao tiếp xã hội ngắn nhưng chưa duy trì được hội thoại theo cách riêng của mình.- Có thể sử dụng cách chào hỏi lịch sự, đơn giản thường ngày.- Có thể mời, đề nghị, xin lỗi, cảm ơn và trả lời lời mời, đề nghị và xin lỗi.- Có thể nói điều mình thích và không thích.

– Có thể tham gia những hội thoại ngắn trong những ngữ cảnh quen thuộc và về những chủ đề quan tâm.

Bậc 3 – Có thể tham gia hội thoại về những chủ đề quen thuộc mà không cần chuẩn bị trước, tuy nhiên đôi lúc vẫn còn khó khăn để thể hiện chính xác điều mình muốn nói.- Có thể hiểu những lời nói trực tiếp trong hội thoại hằng ngày mặc dù thỉnh thoảng vẫn phải hỏi lại những từ và cụm từ cụ thể.- Có thể diễn đạt cảm xúc và ứng xử trước những cảm xúc như ngạc nhiên, vui, buồn, quan tâm và thờ ơ.
Bậc 4 – Có thể tham gia vào các hội thoại mở rộng về hầu hết các chủ đề ngay cả trong môi trường có nhiều tiếng ồn.- Có thể duy trì hội thoại với người bản ngữ qua cách pha trò, đàm tiếu, trêu nhau.- Có thể truyền đạt các mức độ cảm xúc và làm nổi bật tầm quan trọng của kinh nghiệm cá nhân.
Bậc 5 – Có thể sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và hiệu quả cho những mục đích xã hội, bao gồm các biểu đạt cảm xúc, cách nói bóng gió, nói đùa.
Bậc 6 – Có thể trò chuyện thoải mái về cuộc sống cá nhân và xã hội mà không bị cản trở bởi bất kỳ sự hạn chế về ngôn ngữ nào.

2.2.7. Nói tương tác: Giao dịch hàng hóa và dịch vụ

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể thực hiện các giao dịch về hàng hóa và dịch vụ một cách đơn giản.- Có thể xử lý con số, khối lượng, chi phí và thời gian.
Bậc 2 – Có thể yêu cầu và cung cấp hàng hóa và dịch vụ hằng ngày như gọi ăn trong nhà hàng.- Có thể lấy những thông tin cơ bản về hàng hóa và dịch vụ tại các cửa hàng, bưu điện hoặc ngân hàng.- Có thể cung cấp và hiểu các thông tin liên quan tới số lượng, con số, giá cả cho các hàng hóa, dịch vụ.- Có thể xử lý những tình huống hằng ngày khi đi du lịch như về chỗ ở, ăn uống và mua sắm.
Bậc 3 – Có thể xử lý hầu hết các tình huống phát sinh trong khi đi du lịch, tổ chức cho chuyến du lịch như đặt chỗ, làm giấy tờ với các cơ quan có thẩm quyền khi đi du lịch nước ngoài.- Có thể xử lý những tình huống bất thường ở các cửa hàng, bưu điện, ngân hàng ví dụ như trả lại hàng hoặc khiếu nại về sản phẩm.- Có thể giải thích một vấn đề phát sinh và làm rõ nguyên nhân để nhà cung cấp dịch vụ hoặc khách hàng phải nhượng bộ.
Bậc 4 – Có thể sử dụng ngôn ngữ để đàm phán một phương án giải quyết mâu thuẫn như vé đi lại, dịch vụ kém, trách nhiệm bồi thường tài chính cho những tổn thất hoặc trách nhiệm về hàng hóa, dịch vụ không đúng trong hợp đồng.- Có thể phác thảo một kịch bản đền bù, sử dụng những từ ngữ thuyết phục để đạt được sự hài lòng và làm rõ những giới hạn đối với bất kỳ sự nhượng bộ nào đã chuẩn bị sẵn.
Bậc 5 – Như Bậc 4.
Bậc 6 – Như Bậc 4.

2.2.8. Nói tương tác: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể trả lời phỏng vấn không sử dụng thành ngữ những câu hỏi trực tiếp đơn giản với tốc độ nói chậm và rõ ràng về thông tin bản thân.
Bậc 2 – Có thể trả lời và khẳng định quan điểm của mình bằng diễn ngôn đơn giản khi trả lời phỏng vấn.- Có thể làm cho người phỏng vấn hiểu được và trao đổi ý kiến, thông tin về những chủ đề quen thuộc, đôi khi vẫn cần nhắc lại câu hỏi hoặc tìm cách diễn đạt dễ hiểu hơn.
Bậc 3 – Có thể đưa ra ý tưởng trong khi phỏng vấn (ví dụ nhắc tới một chủ đề mới) nhưng phụ thuộc vào việc tương tác với người phỏng vấn.- Có thể sử dụng những câu hỏi và trả lời đã chuẩn bị trước để thực hiện cuộc phỏng vấn nhưng vẫn có khả năng đáp ứng một vài câu hỏi tự phát khi phỏng vấn.- Có thể cung cấp thông tin cụ thể được yêu cầu trong buổi phỏng vấn/tư vấn (ví dụ như xin việc) với độ chính xác hạn chế.- Có thể tiến hành cuộc phỏng vấn, kiểm tra và xác nhận thông tin, mặc dù đôi khi phải yêu cầu nhắc lại.
Bậc 4 – Có thể đưa ra ý tưởng, mở rộng và phát triển chủ đề trong khi phỏng vấn nếu có sự giúp đỡ hoặc khuyến khích từ người phỏng vấn.- Có thể tiến hành một cuộc phỏng vấn một cách trôi chảy và có hiệu quả, xuất phát một cách tự nhiên từ các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, tiếp nối bằng phần trả lời sáng tạo, thăm dò.
Bậc 5 – Có thể thể hiện tốt vai trò của người phỏng vấn và người được phỏng vấn, mở rộng và phát triển chủ đề được thảo luận một cách trôi chảy mà không cần tới bất kỳ sự hỗ trợ nào và có thể xử lý tốt những phần ngoài chủ đề.
Bậc 6 – Có thể duy trì quan điểm của mình trong khi tham gia phỏng vấn, sắp xếp tổ chức lại nội dung trao đổi phù hợp với phong cách diễn đạt của người bản xứ.

 

2.2.9. Phát âm và độ lưu loát

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Phát âm rõ ràng những từ, cụm từ và cách diễn đạt đã được học.- Có thể sử dụng các phát ngôn rất ngắn, biệt lập, chủ yếu là những cấu trúc đã học tuy vẫn còn ngập ngừng để tìm cách diễn đạt.
Bậc 2 – Phát âm rõ ràng, tương đối chính xác nhóm từ, cách diễn đạt và câu ngắn tuy người đối thoại đôi khi vẫn phải yêu cầu nhắc lại.- Có thể làm người đối thoại hiểu ý mình bằng cách bổ sung các chi tiết nhỏ, mặc dù còn ngập ngừng, cắt ngắn ý và khó khăn tìm cách diễn đạt lại.
Bậc 3 – Phát âm rõ ràng, dễ hiểu mặc dù đôi lúc giọng vẫn chưa tự nhiên và thỉnh thoảng còn phát âm sai.- Có thể nói dài mà vẫn có thể hiểu được, mặc dù còn khó khăn diễn đạt lại về cấu trúc và từ vựng, đặc biệt là khi nói dài và tự do.
Bậc 4 – Phát âm và ngữ điệu rõ ràng, tự nhiên.- Có thể giao tiếp dễ dàng và tương đối lưu loát, kể cả với các đoạn nói dài và phức tạp.
Bậc 5 – Có thể thay đổi ngữ điệu và đặt trọng âm câu chuẩn xác để thể hiện các sắc thái ý nghĩa tinh tế.- Có thể diễn đạt ý mình một cách trôi chảy, tự nhiên và gần như không khó khăn gì. Chỉ một số chủ đề khó về mặt khái niệm mới có thể cản trở được mạch diễn đạt trôi chảy và tự nhiên.
Bậc 6 – Có thể thay đổi ngữ điệu, nhịp điệu và đặt trọng âm câu chuẩn xác để thể hiện các sắc thái ý nghĩa tinh tế.- Có thể diễn đạt ý mình một mạch dài một cách tự nhiên, dễ dàng và không ngập ngừng. Chỉ ngừng để lựa chọn từ ngữ đắt nhất để diễn đạt ý mình hoặc để tìm ví dụ hay lời giải thích phù hợp.

2.2.10. Độ chuẩn xác và phù hợp về mặt ngôn ngữ xã hội

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể sử dụng một số ít các cấu trúc ngữ pháp và mẫu câu đã học.- Có thể sử dụng các nhóm từ, cách diễn đạt lịch sự đơn giản nhất hằng ngày, bao gồm: chào hỏi, giới thiệu, nói xin mời, cảm ơn, xin lỗi, v.v…
Bậc 2 – Có thể sử dụng một số cách diễn đạt phù hợp liên quan đến các chủ đề hằng ngày.- Có thể giao tiếp phù hợp với vai và hoàn cảnh giao tiếp đơn giản trong gia đình, lớp học, công việc thông thường.
Bậc 3 – Có thể sử dụng tốt vốn từ vựng/ngữ pháp căn bản nhưng còn gặp khó khăn khi cố gắng diễn đạt những suy nghĩ phức tạp hoặc các chủ đề, tình huống không quen thuộc.- Có thể giao tiếp trong nhiều tình huống thông thường, sử dụng ngôn ngữ phù hợp.- Ý thức được các phép lịch sự và có cách ứng xử phù hợp theo vai và tình huống giao tiếp hằng ngày ở trường và nơi làm việc.
Bậc 4 – Có thể sử dụng tương đối chính xác từ vựng, cấu trúc ngữ pháp trong giao tiếp tuy đôi khi vẫn cần hỗ trợ lựa chọn từ ngữ phù hợp.- Có thể diễn đạt ý một cách tự tin, rõ ràng và lịch sự bằng ngôn ngữ trang trọng cũng như thông tục, phù hợp với vai, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Bậc 5 – Có thể sử dụng chính xác, tự tin và hiệu quả cách phát âm, từ vựng và cấu trúc ngữ pháp trong giao tiếp tuy nhiên đôi khi vẫn phải ngừng câu, chuyển ý và tìm cách diễn đạt khác.- Có thể nhận diện được nhiều cách diễn đạt kiểu thành ngữ hoặc thông tục, cảm nhận được những thay đổi về cách giao tiếp, tuy nhiên đôi khi vẫn phải hỏi lại các chi tiết, đặc biệt khi nghe giọng không quen.
Bậc 6 – Có thể sử dụng chính xác, phù hợp và hiệu quả cách phát âm, từ vựng và cấu trúc ngữ pháp trong giao tiếp.- Sử dụng thành thạo các cách diễn đạt kiểu thành ngữ hoặc thông tục với nhận thức rõ về các tầng nghĩa.- Cảm thụ được trọn vẹn các tác động về mặt ngôn ngữ-xã hội và văn hóa-xã hội của ngôn ngữ do người bản ngữ sử dụng và có thể đối đáp lại một cách phù hợp.- Có thể đóng vai trò cầu nối một cách có hiệu quả giữa người sử dụng ngoại ngữ và người sử dụng tiếng mẹ đẻ, ý thức được những khác biệt về mặt văn hóa-xã hội và ngôn ngữ-văn hóa.

2.2.11. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ bài thi

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể chỉ hoàn thành một số ít phần đơn giản nhất của nhiệm vụ bài thi (trả lời các gợi ý đơn giản) ở mức rất hạn chế; phần lớn các câu trả lời có thể không phù hợp, mơ hồ hoặc bị bỏ qua (có thể do không hiểu văn bản).
Bậc 2 – Chỉ hoàn thành phần đơn giản nhất của nhiệm vụ bài thi (trả lời các gợi ý đơn giản) ở mức rất hạn chế; phần lớn các câu trả lời có thể không phù hợp, mơ hồ hoặc bị bỏ qua (có thể do không hiểu văn bản).
Bậc 3 – Hoàn thành phần lớn nhiệm vụ bài thi ở mức hạn chế; một số câu trả lời có thể không phù hợp, mơ hồ hoặc bị bỏ qua (có thể do không hiểu văn bản).
Bậc 4 – Hoàn thành vừa đủ nhiệm vụ bài thi; phần lớn các câu trả lời phù hợp nhưng một số ít có thể không phù hợp hoặc mơ hồ (có thể do không hiểu văn bản).
Bậc 5 – Hoàn thành tốt nhiệm vụ bài thi; các câu trả lời phần lớn là phù hợp.
Bậc 6 – Hoàn thành nhiệm vụ bài thi một cách hiệu quả; các câu trả lời thường xuyên phù hợp.

2.3. Mô tả kỹ năng đọc

2.3.1. Đặc tả tổng quát cho kỹ năng đọc

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể hiểu các đoạn văn bản rất ngắn và đơn giản về các chủ đề đã học như bản thân, gia đình, trường lớp, bạn bè v.v…
Bậc 2 – Có thể hiểu các đoạn văn bản ngắn và đơn giản về các vấn đề quen thuộc và cụ thể, có thể sử dụng những từ thường gặp trong công việc hoặc đời sống hằng ngày.
Bậc 3 – Có thể đọc hiểu các văn bản chứa đựng thông tin rõ ràng về các chủ đề liên quan đến chuyên ngành và lĩnh vực yêu thích, quan tâm của mình.
Bậc 4 – Có thể đọc một cách tương đối độc lập, có khả năng điều chỉnh cách đọc và tốc độ đọc theo từng dạng văn bản và mục đích đọc cũng như sử dụng các nguồn tham khảo phù hợp một cách có chọn lọc. Có một lượng lớn từ vựng chủ động phục vụ quá trình đọc nhưng có thể vẫn còn gặp khó khăn với các thành ngữ ít xuất hiện.
Bậc 5 – Có thể hiểu chi tiết các văn bản dài, phức tạp, kể cả các văn bản không thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình, với điều kiện được đọc lại các đoạn khó.
Bậc 6 – Có thể hiểu, lựa chọn và sử dụng có phê phán hầu hết các thể loại văn bản, bao gồm các văn bản trừu tượng, phức tạp về mặt cấu trúc, hay các tác phẩm văn học và phi văn học.- Có thể hiểu được nhiều loại văn bản dài và phức tạp, cảm thụ được những nét khác biệt nhỏ giữa các văn phong, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng.

2.3.2. Đọc lấy thông tin và lập luận

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể hiểu sơ bộ nội dung của các văn bản đơn giản, quen thuộc hoặc các đoạn mô tả ngắn, đặc biệt là khi có minh họa kèm theo.
Bậc 2 – Có thể xác định được thông tin cụ thể trong các văn bản đơn giản như thư từ, tờ thông tin và các bài báo ngắn mô tả sự kiện.
Bậc 3 – Có thể xác định các kết luận chính trong các văn bản nghị luận có sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ rõ ràng.Có thể nhận diện mạch lập luận của văn bản đang đọc, dù không nhất thiết phải thật chi tiết.
Bậc 4 – Có thể hiểu các bài báo và các báo cáo liên quan đến các vấn đề thời sự, trong đó tác giả thể hiện lập trường hoặc quan điểm cụ thể.
Bậc 5 – Có thể hiểu tường tận nhiều loại văn bản dài, phức tạp thường gặp trong đời sống xã hội, trong môi trường công việc hay học thuật, xác định được các chi tiết tinh tế như thái độ hay ý kiến ẩn ý hoặc rõ ràng.
Bậc 6 – Như Bậc 5.

2.3.3. Đọc tìm thông tin

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể nhận diện các tên riêng, các từ quen thuộc, các cụm từ cơ bản nhất trên các ghi chú đơn giản, thường gặp trong các tình huống giao tiếp hằng ngày.
Bậc 2 – Có thể tìm được các thông tin cụ thể, dễ đoán trước trong các văn bản đơn giản thường gặp hằng ngày như quảng cáo, thực đơn, danh mục tham khảo và thời gian biểu.- Có thể định vị thông tin cụ thể trong các danh sách và tìm được thông tin mong muốn (ví dụ: sử dụng danh bạ điện thoại để tìm ra số điện thoại một loại hình dịch vụ nào đó).- Có thể hiểu được các biển báo, thông báo trong các tình huống hằng ngày ở nơi công cộng (trên đường phố, trong nhà hàng, ga tàu hỏa…) hay ở nơi làm việc, ví dụ biển chỉ đường, biển hướng dẫn, biển cảnh báo nguy hiểm.
Bậc 3 – Có thể tìm thấy và hiểu các thông tin liên quan trong các văn bản sử dụng hằng ngày như thư từ, tờ thông tin và các công văn ngắn.
Bậc 4 – Có thể đọc lướt nhanh các văn bản dài và phức tạp để định vị được các thông tin hữu ích.- Có thể nhanh chóng xác định nội dung và mức độ hữu ích của các bài báo và các bản báo cáo liên quan đến nhiều loại chủ đề chuyên môn để quyết định xem có nên đọc kỹ hơn hay không.
Bậc 5 – Như Bậc 4.
Bậc 6 – Như Bậc 4.

 2.3.4. Đọc văn bản giao dịch

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể hiểu các thông điệp ngắn, đơn giản trên bưu thiếp.- Có thể đi theo các bản chỉ dẫn đường ngắn, đơn giản (ví dụ: đi từ X tới Y).
Bậc 2 – Có thể hiểu các loại thư từ và văn bản điện tử cơ bản (thư hỏi đáp, đơn đặt hàng, thư xác nhận, v.v…) về các chủ đề quen thuộc.- Có thể hiểu các loại thư từ cá nhân ngắn gọn, đơn giản.- Có thể hiểu các quy định, ví dụ quy định về an toàn, khi được diễn đạt bằng ngôn ngữ đơn giản.- Có thể hiểu các hướng dẫn sử dụng đơn giản cho các thiết bị trong đời sống hằng ngày như điện thoại công cộng.
Bậc 3 – Có thể hiểu các đoạn mô tả sự kiện, cảm xúc và lời chúc trong các thư từ cá nhân đủ để đáp lại cho người viết.- Có thể hiểu các hướng dẫn sử dụng được viết rõ ràng, mạch lạc cho một thiết bị cụ thể.
Bậc 4 – Có thể đọc thư từ liên quan đến sở thích của mình và dễ dàng nắm bắt được ý nghĩa cốt yếu.- Có thể hiểu các bản hướng dẫn dài, phức tạp trong lĩnh vực chuyên môn của mình, bao gồm các chi tiết về điều kiện và cảnh báo, với điều kiện được đọc lại các đoạn khó.
Bậc 5 – Có thể hiểu các loại thư từ, tuy nhiên đôi lúc phải sử dụng từ điển.- Có thể hiểu tường tận các bản hướng dẫn dài, phức tạp về một loại máy móc hay quy trình mới, kể cả không liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của mình, tuy nhiên vẫn cần đọc lại các đoạn khó.
Bậc 6 – Như Bậc 5.

2.3.5. Đọc xử lý văn bản

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể viết lại các từ đơn và các văn bản ngắn được trình bày ở dạng in chuẩn.
Bậc 2 – Có thể nhận ra và tái hiện các từ và cụm từ hoặc các câu ngắn từ một văn bản.- Có thể sao chép các văn bản ngắn được trình bày dạng in hoặc viết tay.
Bậc 3 – Có thể đối chiếu các đoạn thông tin ngắn từ một số nguồn và viết tóm tắt nội dung.- Có thể diễn đạt lại các đoạn văn bản ngắn theo cách đơn giản, sử dụng cách dùng từ và cấu trúc từ của văn bản gốc.
Bậc 4 – Có thể tóm tắt nhiều loại văn bản thực tế và hư cấu, có thể đưa ra nhận định, thảo luận về các quan điểm đối lập và các chủ đề chính.- Có thể tóm tắt các đoạn trích từ báo chí, các đoạn phỏng vấn hoặc các loại tài liệu có bao hàm ý kiến, lập luận và thảo luận.
Bậc 5 – Có thể tóm tắt các đoạn văn bản dài, khó.
Bậc 6 – Có thể tóm tắt thông tin từ các nguồn khác nhau, lập luận và dẫn chứng để trình bày lại vấn đề một cách mạch lạc.

2.4. Mô tả kỹ năng viết

2.4.1. Đặc tả tổng quát cho kỹ năng viết sản sinh

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể viết những cụm từ, câu ngắn về bản thân, gia đình, trường lớp, nơi làm việc.
Bậc 2 – Có thể viết các mệnh đề, câu đơn giản và nối với nhau bằng các liên từ như: và, nhưng, vì.
Bậc 3 – Có thể viết bài đơn giản, có tính liên kết về các chủ đề quen thuộc hoặc mối quan tâm cá nhân bằng cách kết nối các thành tố đơn lập thành bài viết có cấu trúc.
Bậc 4 – Có thể viết bài chi tiết, rõ ràng về nhiều chủ đề quan tâm khác nhau, đưa ra những thông tin và lập luận từ một số nguồn khác nhau.
Bậc 5 – Có thể viết bài chi tiết, rõ ràng, bố cục chặt chẽ về các chủ đề phức tạp, làm nổi bật những ý quan trọng, mở rộng lập luận và quan điểm hỗ trợ cho bài viết với các bằng chứng, ví dụ cụ thể và tóm tắt dẫn đến kết luận phù hợp.
Bậc 6  – Có thể viết bài rõ ràng, trôi chảy, bố cục chặt chẽ, chi tiết với văn phong phù hợp và cấu trúc logic, giúp cho độc giả có thể thấy được những điểm quan trọng trong bài viết.

2.4.2. Viết sản sinh: Viết sáng tạo

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể viết những cụm từ, câu đơn giản về bản thân và những người trong tưởng tượng, nơi sống và công việc của họ.
Bậc 2 – Có thể viết những cụm từ hay những câu đơn giản về gia đình, điều kiện sống, quá trình học tập và công việc hiện tại.- Có thể viết tiểu sử giả tưởng một cách ngắn gọn.
Bậc 3 – Có thể miêu tả chi tiết, dễ hiểu về những chủ đề quen thuộc trong lĩnh vực quan tâm.- Có thể viết về các trải nghiệm, miêu tả cảm giác và phản ứng trong một bài viết đơn giản, có tính liên kết.- Có thể miêu tả một sự kiện, một chuyến đi gần đây (thật hoặc giả tưởng).- Có thể viết kể lại một câu chuyện.
Bậc 4 – Có thể miêu tả rõ ràng, chi tiết về các sự kiện hay những trải nghiệm thật hoặc giả tưởng, thể hiện được mối liên hệ giữa các ý trong một bài viết có liên kết chặt chẽ theo cách hành văn cho thể loại có liên quan.- Có thể miêu tả rõ ràng, chi tiết về những chủ đề thuộc mối quan tâm cá nhân.- Có thể viết bài nhận xét về một bộ phim, một cuốn sách hoặc một vở kịch.
Bậc 5 – Có thể viết những bài văn miêu tả và bài văn sáng tạo rõ ràng, chi tiết với cấu trúc chặt chẽ, với văn phong tự tin, cá tính, tự nhiên, phù hợp với độc giả.
Bậc 6 – Có thể viết những bài văn miêu tả kinh nghiệm và những câu chuyện một cách rõ ràng, rành mạch, ý tứ phong phú và lôi cuốn, văn phong phù hợp với thể loại đã lựa chọn.

2.4.3. Viết sản sinh: Viết báo cáo và tiểu luận

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 2 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 3 – Có thể viết những bài luận đơn giản, ngắn gọn về các chủ đề thuộc mối quan tâm cá nhân.- Có thể tóm tắt báo cáo và trình bày ý kiến về những thông tin thực tế mà người viết tích luỹ được về những vấn đề quen thuộc có thể xảy ra hằng ngày.- Có thể viết những báo cáo rất ngắn gọn với định dạng chuẩn, cung cấp những thông tin thực tế và nêu lý do cho những kiến nghị đưa ra trong báo cáo.
Bậc 4 – Có thể viết một bài luận hoặc một báo cáo, phát triển các lập luận một cách hệ thống, nêu bật được những ý chính và có những minh họa phù hợp.- Có thể đánh giá các ý kiến khác nhau và các giải pháp cho một vấn đề.- Có thể viết một bài luận hoặc một báo cáo phát triển một lập luận nào đó, nêu lý do tán thành hay phản đối một quan điểm nào đó và giải thích những ưu điểm và nhược điểm của các giải pháp khác nhau.- Có thể tổng hợp thông tin và lập luận từ nhiều nguồn khác nhau.
Bậc 5 – Có thể viết những bài bình luận rõ ràng, cấu trúc chặt chẽ về những chủ đề phức tạp, nhấn mạnh những điểm quan trọng nổi bật có liên quan.- Có thể viết triển khai ý và bảo vệ quan điểm của mình với độ dài nhất định, với các ý kiến, lập luận và các minh chứng cụ thể.
Bậc 6 – Có thể viết các báo cáo, bài báo hoặc bài luận phức tạp một cách rõ ràng, rành mạch, ý tứ dồi dào về một vấn đề nào đó hoặc đưa ra những đánh giá sắc bén về những đề xuất, hay bình luận các tác phẩm văn học.- Có thể đưa ra những cấu trúc logic phù hợp và hiệu quả giúp người đọc thấy được những ý quan trọng.

2.4.4. Viết tương tác: Đặc tả tổng quát cho kỹ năng viết tương tác

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể yêu cầu hoặc cung cấp thông tin cá nhân bằng văn bản.
Bậc 2 – Có thể viết những ghi chú ngắn, sử dụng biểu mẫu về những vấn đề thuộc lĩnh vực quan tâm.
Bậc 3 – Có thể truyền đạt thông tin, ý kiến về những chủ đề cụ thể cũng như trừu tượng, kiểm tra thông tin, hỏi và giải thích vấn đề một cách hợp lý.- Có thể viết thư cá nhân, viết các ghi chú để hỏi hoặc truyền đạt những thông tin đơn giản liên quan trực tiếp, giải quyết những điểm được cho là quan trọng.
Bậc 4 – Có thể truyền đạt tin tức, diễn đạt quan điểm một cách hiệu quả dưới hình thức viết và liên kết tin tức, quan điểm của người khác.
Bậc 5 – Có thể thể hiện bản thân rõ ràng và chính xác, liên kết người đối thoại một cách linh hoạt và hiệu quả.
Bậc 6 – Như Bậc 5.

2.4.5. Viết tương tác: Thư từ giao dịch

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể viết, đáp lời một bưu thiếp, điền các bảng, biểu mẫu đơn giản.
Bậc 2 – Có thể viết những thư cá nhân đơn giản để cảm ơn hoặc xin lỗi.
Bậc 3 – Có thể viết thư cá nhân mô tả chi tiết kinh nghiệm, cảm xúc, sự kiện.- Có thể viết thư từ giao dịch nhằm cung cấp thông tin cá nhân, trình bày suy nghĩ về những chủ đề liên quan đến công việc, học tập và các chủ đề về văn hóa, âm nhạc, phim ảnh.
Bậc 4 – Có thể viết thư từ giao dịch với các mức độ cảm xúc và thái độ, nêu được ý kiến cá nhân, trả lời và bình luận về ý kiến và quan điểm của người nhận thư.
Bậc 5 – Có thể thể hiện bản thân rõ ràng và chính xác trong các thư tín cá nhân, sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả, bao gồm thể hiện các cung bậc cảm xúc, cách nói bóng gió và bông đùa.
Bậc 6 – Như Bậc 5.

2.4.6. Viết tương tác: Ghi chép, nhắn tin, điền biểu mẫu

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể viết và điền các con số, ngày tháng, tên riêng, quốc tịch, địa chỉ, tuổi, ngày sinh khi đến một quốc gia, ví dụ: điền vào một mẫu đăng ký khách sạn.
Bậc 2 – Có thể hiểu được những tin nhắn ngắn, đơn giản.- Có thể viết các tin nhắn ngắn, đơn giản liên quan tới những vấn đề thuộc lĩnh vực quan tâm.
Bậc 3 – Có thể viết các ghi chú truyền đạt thông tin đơn giản về những nội dung liên quan tới bạn bè, nhân viên dịch vụ, giáo viên và những người thường gặp trong cuộc sống hằng ngày, làm rõ được các điểm quan trọng trong tin nhắn.- Có thể hiểu các tin nhắn có nội dung yêu cầu hoặc giải thích vấn đề.
Bậc 4 – Như Bậc 3.
Bậc 5 – Như Bậc 3.
Bậc 6 – Như Bậc 3.

2.4.7. Xử lý văn bản

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể chép lại những từ đơn hay văn bản ngắn được trình bày dưới dạng in chuẩn.
Bậc 2 – Có thể lựa chọn và tái tạo những từ, cụm từ quan trọng, hay những câu ngắn từ một đoạn văn ngắn trong khả năng và kinh nghiệm giới hạn của bản thân. Có thể chép lại những đoạn văn bản ngắn.
Bậc 3 – Có thể tập hợp thông tin ngắn từ một vài nguồn và tóm tắt lại những thông tin đó cho người khác. Có thể diễn đạt lại những đoạn văn theo lối đơn giản, sử dụng cách hành văn và trình tự như trong văn bản gốc.
Bậc 4 – Có thể tóm tắt các loại văn bản thực tế hay giả tưởng, nhận xét, thảo luận và đối chiếu những quan điểm khác nhau và các chủ điểm chính. Có thể tóm tắt những đoạn trích từ các nguồn như tin tức, phỏng vấn, hay tư liệu có những quan điểm, tranh luận hay thảo luận. Có thể tóm tắt cốt truyện hay trình tự các sự kiện trong một bộ phim hay một vở kịch.
Bậc 5 – Có thể tóm tắt các văn bản dài và khó.
Bậc 6 – Có thể tóm tắt thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, qua đó thể hiện khả năng tái cấu trúc những tranh luận và bài viết một cách mạch lạc về kết quả tổng thể.

2.4.8. Tiêu chí ngôn ngữ chung

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có kiến thức cơ bản về cách diễn đạt đơn giản các thông tin cá nhân và nhu cầu cụ thể.
Bậc 2 – Có vốn ngôn ngữ cơ bản để xử lý các tình huống hằng ngày với nội dung có thể đoán trước, mặc dù người viết vẫn phải điều chỉnh nội dung thông điệp và tìm từ. Có thể diễn đạt ngắn gọn những nhu cầu đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày cụ thể như thông tin cá nhân, thói quen hằng ngày, mong muốn, nhu cầu, hỏi thông tin. Có thể sử dụng những kiểu câu đơn giản, những đoản ngữ, cụm từ ngắn được ghi nhớ, những mô thức giao tiếp để diễn đạt về bản thân, về người khác, công việc, địa danh, vật sở hữu v.v… Có vốn từ hạn chế gồm những cụm từ ngắn được ghi nhớ về những tình huống cấp thiết có thể đoán trước; trong những tình huống không quen thuộc, vẫn thường xảy ra những hiểu nhầm và gián đoạn giao tiếp.
Bậc 3 – Có đủ vốn từ để có thể miêu tả những tình huống không thể đoán trước, giải thích các điểm chính của vấn đề với độ chính xác hợp lý và thể hiện những suy nghĩ về các chủ đề mang tính trừu tượng hay văn hóa như âm nhạc, điện ảnh. Có đủ vốn từ vựng để diễn đạt mong muốn bản thân với một chút do dự hay viết lòng vòng về các chủ đề như gia đình, sở thích, đam mê, công việc, du lịch, các sự kiện đang diễn ra, nhưng do giới hạn về mặt từ vựng nên đôi chỗ viết lặp và thể hiện khó khăn trong cách trình bày.
Bậc 4 – Có thể diễn đạt về bản thân một cách rõ ràng, ít có dấu hiệu về giới hạn điều người viết muốn diễn đạt. Có đủ vốn từ để có thể miêu tả một cách rõ ràng, bày tỏ quan điểm và triển khai lập luận mà không thấy có dấu hiệu phải tìm từ, thể hiện khả năng sử dụng một vài kiểu câu phức tạp để diễn đạt.
Bậc 5 – Có thể lựa chọn cách trình bày phù hợp từ một vốn từ rộng để diễn đạt bản thân một cách rõ ràng mà không có dấu hiệu về sự giới hạn điều người viết muốn diễn đạt.
Bậc 6 – Có thể sử dụng ngôn ngữ ở phạm vi rộng, có khả năng kiểm soát ngôn từ một cách nhất quán để diễn đạt suy nghĩ chính xác, nhấn mạnh, khu biệt và loại bỏ những yếu tố tối nghĩa. Không có dấu hiệu về sự giới hạn điều người viết muốn diễn đạt.

2.4.9. Phạm vi từ vựng

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có vốn từ cơ bản gồm các từ, cụm từ đơn lẻ thuộc các tình huống cụ thể.
Bậc 2 – Có đủ vốn từ để thực hiện các giao dịch thường nhật liên quan đến các tình huống và chủ đề quen thuộc. Có đủ vốn từ để diễn đạt những nhu cầu giao tiếp cơ bản và để xử lý những nhu cầu tối giản.
Bậc 3 – Có đủ vốn từ để diễn đạt bản thân, tuy còn vòng vo, về hầu hết các chủ đề liên quan đời sống hằng ngày như gia đình, thói quen, sở thích, công việc, du lịch và các sự kiện đang diễn ra.
Bậc 4 – Có vốn từ rộng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực của người sử dụng ngôn ngữ và hầu hết các chủ đề chung. Có khả năng hành văn đa dạng nhằm tránh lặp từ thường xuyên, nhưng do vốn từ vẫn còn thiếu nên khi diễn đạt vẫn còn ngập ngừng, dài dòng.
Bậc 5 – Thông thạo một lượng từ vựng lớn, có thể cho phép lấp đầy những khoảng trống bằng cách sử dụng những lối nói giải thích dài dòng, phải tìm kiếm từ thích hợp hoặc dùng các lối nói lảng tránh. Thông thạo các cụm từ mang tính thành ngữ và từ ngữ thông tục.
Bậc 6 – Thông thạo một lượng từ vựng rất lớn bao gồm các cụm từ mang tính thành ngữ, từ ngữ thông tục, nhận biết được mức độ ý nghĩa biểu cảm.

2.4.10. Kiểm soát từ vựng

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Không có đặc tả tương ứng.
Bậc 2 – Có khả năng kiểm soát được vốn từ hẹp thuộc các nhu cầu cụ thể hằng ngày.
Bậc 3 – Kiểm soát tốt lượng từ vựng ở trình độ sơ cấp. Tuy vậy vẫn có những lỗi lớn khi diễn đạt những ý nghĩ phức tạp hay những chủ đề và tình huống không quen thuộc.
Bậc 4 – Mức độ chính xác trong việc sử dụng từ nhìn chung là cao. Tuy đôi chỗ còn gây hiểu nhầm và sự lựa chọn từ còn chưa chính xác, nhưng điều đó không làm cản trở quá trình giao tiếp.
Bậc 5 – Đôi khi có những khiếm khuyết nhỏ nhưng không có những lỗi nghiêm trọng trong việc sử dụng từ.
Bậc 6 – Sử dụng từ luôn chính xác và thích hợp.

2.4.11. Độ chính xác về ngữ pháp

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Chỉ dùng được một cách hạn chế một số cấu trúc ngữ pháp và mẫu câu đơn giản trong vốn ngữ pháp đã được học.
Bậc 2 – Sử dụng chính xác một số cấu trúc đơn giản nhưng vẫn mắc các lỗi cơ bản một cách hệ thống như có thiên hướng nhầm lẫn giữa các thì, không sử dụng dạng thích hợp của động từ với chủ ngữ. Tuy nhiên, người sử dụng vẫn thể hiện được rõ ràng ý mình muốn truyền đạt.
Bậc 3 – Giao tiếp được một cách khá chính xác trong những ngữ cảnh quen thuộc; nhìn chung, có khả năng kiểm soát tốt mặc dù còn có sự ảnh hưởng đáng kể của tiếng mẹ đẻ. Có thể còn mắc lỗi, nhưng người sử dụng vẫn thể hiện được rõ ràng ý mình muốn truyền đạt. Sử dụng được một cách khá chính xác những mẫu câu thường dùng liên quan tới những tình huống quen thuộc.
Bậc 4 – Kiểm soát ngữ pháp tốt, đôi khi cũng có những lỗi nhỏ trong cấu trúc câu nhưng hiếm khi xảy ra và khi nhìn lại thì có thể sửa được ngay. Không mắc lỗi gây ra sự hiểu lầm.
Bậc 5 – Luôn duy trì độ chính xác ngữ pháp cao, hiếm khi mắc lỗi mà nếu có thì cũng khó phát hiện.
Bậc 6 – Luôn duy trì việc kiểm soát về ngữ pháp đối với những cấu trúc ngôn ngữ phức tạp ngay cả khi phải chú ý đến những điều khác như chuẩn bị cho phần tiếp theo hoặc theo dõi phản ứng của những người khác.

2.4.12. Độ chính xác về chính tả

Bậc Đặc tả
Bậc 1 – Có thể chép lại các từ và các cụm từ ngắn, quen thuộc như các biển hiệu hoặc các lời chỉ dẫn đơn giản, tên các vật dụng hằng ngày, tên các cửa hiệu và các cụm từ thường xuyên sử dụng. Có thể viết đúng chính tả địa chỉ, quốc tịch và các thông tin cá nhân khác.
Bậc 2 – Có thể chép các câu ngắn về các chủ đề hằng ngày, ví dụ các câu chỉ đường. Có thể viết chính xác âm tiết của các từ ngắn (không nhất thiết chuẩn mực tuyệt đối) sẵn có trong vốn từ khẩu ngữ của người học.
Bậc 3 – Có thể viết được một đoạn văn nhìn chung là dễ hiểu từ đầu tới cuối với chữ viết, dấu câu và bố cục chính xác để người đọc có thể theo dõi.
Bậc 4 – Có thể viết được một đoạn văn rõ ràng, dễ hiểu theo đúng các tiêu chí về phân đoạn và bố cục chuẩn của một đoạn văn. Có thể sử dụng chữ viết và dấu câu tương đối chính xác nhưng vẫn còn dấu hiệu bị ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ.
Bậc 5 – Bố cục, phân đoạn và sử dụng dấu câu thống nhất và hợp lý. Viết đúng chính tả nhưng đôi chỗ còn lỗi nhỏ do không tập trung.
Bậc 6 – Viết không có lỗi chính tả.

V. Bảng tự đánh giá năng lực ngoại ngữ

Để người học có thể tự đánh giá năng lực ngoại ngữ của mình trên cơ sở đó lập kế hoạch và xây dựng lộ trình, phương pháp học tập và tự học để đạt được trình độ theo quy định, KNLNNVN cung cấp Bảng tự đánh giá năng lực như sau:

Bậc Kỹ năng tiếp nhận Kỹ năng tương tác Kỹ năng sản sinh
Nghe Đọc Nói tương tác Viết tương tác Nói sản sinh Viết sản sinh
Bậc 1 Tôi có thể nhận biết được các từ và nhóm từ quen thuộc về bản thân, gia đình và môi trường sống xung quanh tôi khi mọi người nói chậm và rõ ràng. Tôi có thể nhận diện các từ, nhóm từ quen thuộc và các câu đơn giản liên quan đến bản thân, gia đình và môi trường xung quanh gần gũi với tôi. Tôi có thể hiểu các văn bản rất ngắn và đơn giản trên quảng cáo, thông báo. Tôi có thể hỏi và trả lời các câu hỏi đơn giản về các chủ đề quen thuộc về bản thân, gia đình, nhà trường khi người khác nói chậm, rõ ràng và đôi khi nhắc lại để giúp tôi thể hiện điều muốn nói. Tôi có thể viết bưu thiếp đơn giản và ngắn gọn, ví dụ viết bưu thiếp về kỳ nghỉ của bản thân. Tôi có thể điền biểu mẫu với các thông số cá nhân, ví dụ điền tên, quốc tịch, địa chỉ vào biểu đặt phòng khách sạn. Tôi có thể sử dụng các cụm từ và câu đơn giản để nói về các chủ đề quen thuộc về bản thân, gia đình, nhà trường. Tôi có thể viết được những cụm từ hoặc những câu đơn giản.
Bậc 2 Tôi có thể hiểu được các nhóm từ và từ vựng thường dùng về những chủ đề liên quan trực tiếp như gia đình, mua sắm, nơi ở, nghề nghiệp.Tôi có thể hiểu được ý chính trong các thông báo ngắn, đơn giản và rõ ràng. Tôi có thể hiểu các cụm từ và các từ ngữ thường gặp về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến tôi (ví dụ: các thông tin cơ bản liên quan tới cá nhân và gia đình, mua sắm, địa lý địa phương, việc làm). Tôi có thể hiểu ý chính của các văn bản ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản. Tôi có thể giao tiếp được trong các tình huống đơn giản hằng ngày về bản thân, gia đình, nhà trường, nơi tôi sinh sống. Tôi có thể thực hiện các giao tiếp đơn giản quen thuộc nhưng không duy trì được cuộc hội thoại. Tôi có thể viết tin nhắn đơn giản, ngắn gọn thuộc phạm vi nhu cầu cấp thiết. Tôi có thể viết một lá thư cá nhân rất đơn giản, ví dụ thư cảm ơn. Tôi có thể sử dụng các cụm từ và các câu đã học để mô tả một cách đơn giản về gia đình tôi và những người khác; về điều kiện sống, quá trình học tập và công việc hiện tại hoặc gần đây nhất của tôi. Tôi có thể viết một số cụm từ hoặc câu đơn giản nối với nhau bằng những liên từ đơn giản như: và, nhưng, bởi vì.
Bậc 3 Tôi có thể hiểu được ý chính của bài nói về các vấn đề quen thuộc thường gặp trong trường lớp, giải trí và công việc sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, rõ ràng. Tôi có thể hiểu được ý chính các chương trình phát thanh hay truyền hình về các vấn đề thời sự hoặc các chủ đề tôi quan tâm khi bài nói tương đối chậm và rõ ràng. Tôi có thể hiểu các ý chính của các văn bản chuẩn mực, rõ ràng về các vấn đề quen thuộc thường gặp trong công việc, học tập. Tôi có thể hiểu được các sự kiện, cảm xúc, mong ước qua các thư trao đổi cá nhân. Tôi có thể giao tiếp được không cần chuẩn bị về các chủ đề quen thuộc hằng ngày liên quan đến sở thích cá nhân, cuộc sống hoặc thời sự hằng ngày (ví dụ: gia đình, sở thích, công việc, du lịch và các sự kiện đang diễn ra). Tôi có thể viết bài đơn giản có tính liên kết về những chủ đề quen thuộc hay mối quan tâm cá nhân. Tôi có thể viết thư mô tả trải nghiệm hoặc cảm nhận của bản thân. Tôi có thể kết nối đơn giản các nhóm từ để thuật lại một câu chuyện, sự kiện, mơ ước và hy vọng. Tôi có thể đưa ra lý do và giải thích về quan điểm, kế hoạch của tôi. Tôi có thể kể lại câu chuyện đơn giản về một cuốn sách hoặc bộ phim và bày tỏ suy nghĩ của mình. Tôi có thể viết một bài đơn giản có bố cục về một chủ đề quen thuộc hoặc quan tâm.
Bậc 4 Tôi có thể hiểu được các phát biểu hay bài giảng dài, theo dõi và hiểu được các lập luận phức tạp với chủ đề tôi quan tâm hoặc tương đối quen thuộc.Tôi có thể hiểu được hầu hết các chương trình thời sự trên truyền hình, phim ảnh sử dụng ngôn ngữ chuẩn. Tôi có thể hiểu các bài viết, báo cáo liên quan đến các vấn đề thời cuộc mà người viết bày tỏ quan điểm của mình. Tôi có thể hiểu các bài viết về văn học đương thời. Tôi có thể giao tiếp tương đối trôi chảy, tự nhiên với người bản ngữ.Tôi có thể chủ động tham gia thảo luận về các chủ đề quen thuộc, giải thích và bảo vệ quan điểm của mình. Tôi có thể viết thư nói lên tầm quan trọng của sự kiện hoặc trải nghiệm đối với bản thân. Tôi có thể trình bày một cách rõ ràng, chi tiết về nhiều loại chủ đề liên quan đến lĩnh vực tôi quan tâm. Tôi có thể giải thích một quan điểm nào đó về một vấn đề thời sự và chỉ ra được ưu điểm, nhược điểm của các phương án khác nhau. Tôi có thể viết một bài viết về các vấn đề khác nhau thuộc mối quan tâm cá nhân. Tôi có thể viết một bài luận hay một báo cáo truyền đạt thông tin hoặc đưa ra lý do tán thành hay phản đối một quan điểm cụ thể nào đó.
Bậc 5 Tôi có thể hiểu được các bài nói dài ngay cả khi cấu trúc bài nói không rõ ràng.Tôi có thể hiểu được các chương trình truyền hình và xem các bộ phim mà không phải cố gắng quá nhiều. Tôi có thể hiểu các văn bản dài, các tác phẩm văn học phức tạp và cảm thụ được văn phong.Tôi có thể hiểu được các bài viết dài về chuyên môn hoặc hướng dẫn kỹ thuật ngay cả khi không liên quan đến lĩnh vực của mình. Tôi có thể diễn đạt ý mình một cách trôi chảy, tự nhiên. và không gặp khó khăn khi tìm cách diễn đạt. Tôi có thể sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và hiệu quả cho các mục đích xã hội và chuyên môn. Tôi có thể đưa ra ý kiến, quan điểm chính xác và khéo léo đưa đẩy câu chuyện với những người khác. Tôi có thể viết bài trả lời với cách diễn đạt rõ ràng, chính xác, linh hoạt và hiệu quả với phong cách thích hợp. Tôi có thể trình bày một cách rõ ràng, chi tiết về các chủ đề phức tạp bao hàm nhiều tiểu chủ đề, đi sâu vào một vài vấn đề cụ thể và đưa ra được kết luận phù hợp. Tôi có thể viết một bài văn diễn đạt ý rõ ràng với bố cục chặt chẽ, trình bày quan điểm với một độ dài nhất định.Tôi có thể viết thư, bài luận hay một báo cáo về những chủ đề phức tạp nêu bật những vần đề nổi cộm.Tôi có thể lựa chọn văn phong phù hợp với người đọc.
Bậc 6 Tôi hoàn toàn không gặp khó khăn trong việc hiểu tất cả các loại phát ngôn dù là nghe trực tiếp hay qua các phương tiện truyền thông, ngay cả khi lời nói được diễn đạt với tốc độ của người bản ngữ, miễn là phải có một khoảng thời gian để làm quen với giọng nói. Tôi có thể hiểu và phân tích một cách có phê phán gần như tất cả các loại văn bản, bao gồm các văn bản trừu tượng, phức tạp về mặt cấu trúc và ngôn ngữ, hay các tác phẩm văn học và phi văn học. Tôi có thể hiểu được nhiều loại văn bản dài và phức tạp, cảm thụ được những nét khác biệt nhỏ giữa các văn phong và nghĩa hàm ngôn cũng như hiển ngôn. Tôi có thể tham gia vào bất kỳ cuộc đàm thoại hoặc thảo luận nào mà không gặp khó khăn với các cách dùng thành ngữ, ngôn ngữ thông tục. Tôi có thể diễn đạt ý mình một cách trôi chảy và truyền tải các sắc thái ngữ nghĩa tinh tế, chính xác. Nếu gặp khó khăn, tôi có thể diễn đạt cách khác một cách khéo léo, trôi chảy đến mức những người đối thoại với tôi khó nhận ra điều đó. Như Bậc 5. Tôi có thể mô tả hoặc tranh luận một cách rõ ràng, lưu loát theo phong cách phù hợp với bối cảnh và có cấu trúc logic hiệu quả, làm cho người nghe quan tâm và ghi nhớ các ý quan trọng. Tôi có thể viết một bài văn rõ ràng, mạch lạc với văn phong phù hợp. Tôi có thể viết thư, báo cáo hay bài báo phức tạp trình bày một sự việc với cấu trúc logic, hiệu quả giúp cho người đọc có thể nhận biết và nhớ được những ý quan trọng. Tôi có thể viết tóm tắt và viết bài phê bình về những công trình thuộc chuyên môn của mình cũng như các tác phẩm văn học.

ik600 2

(Sưu Tầm)

Bộ giáo dục bị “mắng” té tát vì xin 34 nghìn tỷ đổi mới sách

(Theo GDVN) – Từ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho tới Chủ nhiệm các ủy ban đều đặt ra nghi vấn về tính khả thi của đề án đổi mới SGK.

Sách kém, người dạy cũng kém

Tại phiên họp thứ 27 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khai mạc sáng nay (14/4), Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển thừa nhận, chương trình, SGK giáo dục phổ thông hiện hành có 2 bất cập lớn.

Một là nội dung của các môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản và thiết thực; chưa cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa dung lượng và thời lượng dạy học, nặng “dạy chữ” nhẹ “dạy người”. Một số chủ đề còn nặng, khó, nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số và học sinh vùng khó khăn…

Hai là nội dung chương trình, SGK bị “cắt khúc”, không thật đảm bảo tính liên thông, có trùng lặp một số nội dung giữa các lớp học, cấp học và giữa các môn học; chưa liên thông tốt giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học để góp phần thực hiện có hiệu quả việc phân luồng sau trung học cơ sở và sau trung học phổ thông. Hình thức tổ chức “phân ban kết hợp với tự chọn” ở cấp THPT còn cứng nhắc, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng và khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh, chưa đáp ứng được yêu cầu phân luồng đa dạng.

Nhiều câu hỏi đặt ra xoay quanh tính khả thi của đề án đổi mới SGK tại Thường vụ Quốc hội sáng nay. Ảnh TTO

Sau khi nghe báo cáo này, ông Ksor Phước – Chủ tịch Hội đồng Dân nói thẳng: “Làm 14 năm rồi mà vẫn cãi nhau mãi về sách giáo khoa. 10 năm nữa mà thay đổi toàn diện thì sẽ như thế nào? Giáo viên thay đổi như thế nào? Không đơn giản đâu. Thứ hai là thời gian học đưa vào an ninh quốc phòng, an toàn giao thông vào, liệu tích hợp có loại trừ nhiều bộ môn đưa vào không? Tôi thấy cần tính toán cân nhắc cho đầy đủ hơn”.

Ở một góc nhìn khác, Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội – ông Nguyễn Đức Hiền cho rằng, đề án lớn, nhưng báo cáo tác động của đề án chưa rõ. Chỉ có 2,5 trang nhưng trong đó đa phần là thuận lợi, mà không nêu khó khăn.

“Vậy chương trình sách giáo khoa phổ thông tác động tới các chương trình khác như: Đại học, dạy nghề, cuộc sống như thế nào? Có quá ít đánh giá phân tích cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực để bảo đảm, ông Hiền đặt vấn đề.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội – ông Phan Trung Lý cũng đặt vấn đề: “Ai viết báo cáo tác động chỉ có 2,5 trang? Chúng ta cứ đổi mới mãi. Làm gì phải tương xứng vì 2 tỷ USD không phải là nhỏ, chứ không phải lần nào trình ra Quốc hội xin đổi mới rồi cứ loay hoay, mà cần làm đầy đủ hơn”.

Phân tích sâu thêm, bà Trương Thị Mai – Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề của xã hội nói: “Nghị quyết đổi mới chương trình, SGK phổ thông căn cứ theo báo cáo giám sát là chưa đúng tinh thần Nghị quyết của Quốc hội, bởi báo cáo giám sát không phải là căn cứ để đổi mới… Vậy đầu ra của Nghị quyết này là như thế nào? Phải làm sao chỉ rõ được lần đổi mới này khác với những lần trước như thế nào? Tức là phải đạt cao hơn về chất, phải được lượng hóa, chứ không thể định tính”.

Chủ nhiệm Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường Phan Xuân Dũng thẳng thắn: “Báo cáo đánh giá tác động quá ngắn, đọc mà tưởng báo cáo tóm tắt!”.

Sau khi chỉ ra, chương trình phổ thông là bước đầu trang bị kiến thức, nhân cách để các em bước vào đời, ông Dũng chỉ  ra những “yếu điểm” của đề án, đồng thời yêu cầu Bộ Giáo dục và đào tạo phải chính là việc: “Chương trình ảnh hưởng đến nhân cách của nhiều thế hệ học trò ra sao? Tác động đến phát triển kinh tế xã hội thế nào?”.

Học sinh Việt Nam không biết Phidel là ai?

Sau khi đề cập tới tính khả thi của đề án, ông Ksor Phước kể một câu chuyện khiến nhiều người giật mình: “Tôi đi tháp tùng Thủ tướng, chụp ảnh với ông Phidel về khoe cháu thì không ai biết cả. Ở Cuba ai cũng biết Chủ tịch Hồ Chí Minh, và hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng con cháu của chúng ta 30 tuổi mà không biết Phidel là ai? Thế thì chết rồi. Đây là sản phẩm của giáo dục. Không khéo về sau con cháu không biết là ai, mà chỉ quan tâm đến những cái đương thời thôi. Vì thế, tôi hoang mang chưa thấy cái mới là cái gì? Nói nhiều về SGK rồi, giờ quyết tâm đột phá là cái gì? Khó mới yêu cầu Bộ giáo dục làm, dễ thì không cần”.

Ông KSor Phước nói về đề án đổi mới SGK: Tôi hoang mang chưa thấy cái mới là cái gì?

Ngay trong báo cáo của Bộ Giáo dục cũng đang loay hoay với một số bất cập như:

Hội đồng chỉ đạo xây dựng chương trình giáo dục phổ thông được thành lập sau các ban soạn thảo chương trình ở mỗi cấp học; không có tổng chủ biên chương trình, SGK chung của giáo dục phổ thông.

Còn thiếu một số công trình nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông. Việc xin ý kiến góp ý của các đối tượng trong và ngoài ngành giáo dục cho dự thảo chương trình, SGK chưa đảm bảo chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng tốt yêu cầu về tập huấn, điều kiện làm việc, cung cấp thông tin… cho các tác giả chương trình và tác giả SGK.

Không bảo đảm sự đồng bộ giữa đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Chưa nhận thức và thực hiện đúng vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Nhìn chung, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục không bắt kịp yêu cầu đổi mới của chương trình, SGK, yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông, chưa khắc phục được lối dạy học “truyền thụ một chiều”, chưa vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh. Phương thức đánh giá chất lượng giáo dục còn lạc hậu.

Thiếu quy hoạch phát triển nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, do đó, đội ngũ này vừa thừa, vừa thiếu. Phương thức đào tạo trong các nhà trường sư phạm chậm đổi mới, chất lượng đào tạo còn thấp.

Quản lý, chỉ đạo việc thực hiện chương trình, SGK ở địa phương còn mang nặng tính hành chính, thiếu các giải pháp quản lý hữu hiệu phù hợp với từng địa phương. Việc hướng dẫn, tạo điều kiện vận dụng chương trình theo đặc điểm vùng miền và từng loại đối tượng chưa cụ thể, rõ ràng.

Vì vậy, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu băn khoăn về mục tiêu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam có đạt được mốc tiên tiến khu vực hay không?

Ông Phan Trung Lý đặt thẳng câu hỏi: “Năm 2000 ban hành Nghị quyết 40 về đổi mới sách giáo khoa phổ thông. Vậy kết quả thực hiện Nghị quyết 40 được gì? Giờ sửa mới thì ra sao? Nếu không luôn đổi mới mà không ổn định. Chúng ta cứ loay hoay từ năm 2000 đến giờ. Những gì cần sửa đã đưa vào trong Luật giáo dục đại học rồi. Giờ phải lấy ý kiến chuyên gia. Đánh giá không phải là đánh giá về tác động tâm lý học sinh, mà phải đánh giá tác động của phương án quy định”.

Trước những khó khăn chất đầy như núi với đề án này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lo lắng về tiến độ thực hiện nếu đề án được thông qua.

“Còn có 1,5 năm nữa thôi, từ nay dựng xong chương trình – SGK, nâng cao năng lực trình độ, đáp ứng của đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất để triển khai. Hai điều kiện này có khả thi không, có làm được không? 10 năm đổi mới chương trình, bổ sung SGK thì hay dở phải tiếp tục. Đổi mới có kế thừa chứ không phải cái gì cũng mới cả. Mới mà không kế thừa thì gay go. Từ đó mới ra quan điểm, mục tiêu yêu cầu đối vói chương trình, sách, tiếp tục thì như thế nào? Viết thế này chưa đủ điều kiện trình ra Quốc hội. Bây giờ là cải cách hành chính, vậy chương trình sách mới phải thế nào? Ba lô giờ to hơn là không được. Thủ tục phải công khai minh bạch, cái gì có lợi cho dân thì áp dụng”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Giáo dục số: cơ hội mới cho phát triển

Phòng học ngoại ngữ chuyên dụng IK600 của công ty TBGD Hải Hà

Phòng học ngoại ngữ chuyên dụng IK600 của công ty TBGD Hải Hà nâng cao khả năng học NN của học sinh.

(theo báo TBKTSG) – Giáo dục đã được nhiều lần đề cập đến như một vấn đề sống còn của đất nước, không phải chỉ ở Việt Nam và bởi người Việt Nam. Tuy nhiên, với một nước đi sau như Việt Nam thì nâng cao giáo dục lại càng cấp bách hơn. Điều này ngày càng được coi là hiển nhiên không cần bàn cãi. Chính vì thế, ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore, đã có lời khuyên khi đến thăm Việt Nam: “Thắng cuộc đua trong giáo dục thì mới thắng cuộc đua trong kinh tế”.

Tri thức là sức mạnh

Tuy nhiên, điều này không cần phải nhờ đến những chính trị gia lừng lẫy như ông Lý Quang Diệu mới nhận ra, mà ngay cả người nông dân cũng biết như vậy. Vì thế, mỗi mùa thi đại học, các phụ huynh không quản đường xa đưa con em mình đến trường ứng thí. Mong muốn duy nhất của họ là “thắng trong cuộc đua giáo dục để sau này thắng trong cuộc đua kinh tế”, nói nôm na là học để sau này đỡ khổ.

Những tấm gương thoát khổ của gia đình chòm xóm, hay đi thoát ly nói theo ngôn ngữ nông thôn, đã giúp họ củng cố thêm nhận định này.

Đó là ở mức cá nhân. Còn giờ nhìn lại lịch sử ở mức quốc gia thì thấy rằng, các nước vươn lên trở thành cường quốc, hay ít nhất là chạm ngưỡng nước phát triển, phần nhiều cũng nhờ vào sự “thắng trong giáo dục”.
Các nước châu Á đi sau, nước nào ý thức được việc này, đầu tư cho giáo dục thích đáng, bỏ cái học truyền thống học chỉ để thi ra làm quan, trọng bằng cấp, để chuyển sang thực học thực nghiệp, thì phát triển được. Điển hình nhất cho xu hướng này là Nhật Bản ở thời Duy Tân Minh Trị.

Ở thời kỳ này, Nhật Bản đã tiến hành một cuộc cải cách giáo dục và văn hóa sâu rộng. Tinh thần của cuộc cải cách đó có thể gói lại trong khẩu hiệu: Thoát Á nhập Âu. Thoát Á ở đây là thoát khỏi cái học từ chương, sách vở của Nho giáo truyền thống; còn nhập Âu là nhập cái tinh thần khoa học kỹ nghệ, luật pháp, kinh doanh của châu Âu.

Nhờ chính sách thoát Á nhập Âu này mà chỉ sau vài chục năm, Nhật Bản đã vươn lên thành hàng cường quốc. Tất nhiên, để làm được như vậy, thì trước đó đã phải có một quá trình chuẩn bị lâu dài, thông qua các chương trình dịch thuật và Lan học (học phương Tây qua tiếng Hà Lan) đồ sộ và quy mô.

Hàn Quốc sau này cũng đã phát triển nhờ con đường tương tự: Đầu tư cho giáo dục, khoa học, kỹ thuật làm nền tảng để phát triển. Nhờ chính sách đúng đắn này, cộng với việc biết chớp thời cơ, chỉ sau vài chục năm, Hàn Quốc cũng đã vươn lên thành cường quốc, dù xuất phát điểm của những năm 1950 của họ cũng thấp như của Việt Nam.

Các nước nhỏ hơn như Đài Loan, Singapore vươn lên thành hổ thành rồng trong thời gian ngắn, cũng có sự đóng góp to lớn của giáo dục và kỹ nghệ.

Sở dĩ giáo dục có vai trò quan trọng như vậy là vì, đó là nơi sản xuất và truyền bá tri thức. Từ 500 năm về trước, triết gia F. Bacon đã có một nhận xét để đời: Tri thức là sức mạnh. Vậy nên, quốc gia nào nắm giữ được tri thức, quốc gia đó có sức mạnh.

Sự phát triển của công nghiệp châu Âu đã đẩy cuộc đua về tri thức sang một tầm cao mới. Thay vì tập trung vào truyền bá và tiêu thụ những tri thức đã tích lũy được, họ tập trung khai phá tri thức mới. Do đó, đại học có thêm một vai trò mới, quan trọng và chủ đạo: nghiên cứu để mở rộng tri thức.

Người đặt nền móng cho quan niệm về đại học nghiên cứu này chính là Alexander von Humboldt 200 năm về trước. Kể từ đó, đại học nghiên cứu đã trở thành hình mẫu của giáo dục đại học khắp thế giới.

Nơi thực hiện điều này hăng hái nhất chính là nước Đức, quê hương của Humboldt. Vì thế, không ngạc nhiên khi ngày nay nước Đức hùng cường, và ngay trong cơn khủng hoảng toàn thế giới, nước Đức vẫn vững vàng, và là đầu tàu kéo cả châu Âu.

Bài học nhãn tiền như vậy là đã quá rõ. Nhưng việc đầu tư để khám phá tri thức mới là rất tốn kém, đòi hỏi nhiều phương tiện và nhân lực chất lượng mà Việt Nam chưa thể đáp ứng ngay được. Nhưng không lẽ lại mãi đứng ngoài, mãi lạc hậu?

Bối cảnh mới

Trong lúc nhiều người còn loay hoay tìm câu trả lời cho bài toán nan giải này thì trào lưu giáo dục trực tuyến mở đại trà (MOOC) bùng nổ trên thế giới.

Xuất phát từ nước Mỹ, chỉ sau hai năm, trào lưu này đã lan ra khắp thế giới, và được nhắc đến như một cuộc cách mạng của giáo dục. Vì thế, tạp chí The New York Times đã gọi năm 2012 là năm của MOOC.

Lần đầu tiên, sau hàng ngàn năm, năng suất lao động trong giáo dục được đẩy lên cao đến vậy. Thay vì dạy vài chục học trò trong một lớp, sử dụng MOOC, một giảng viên có thể dạy cho hàng trăm ngàn người cùng một lúc.
Sự ra đời của MOOC có thể coi như một tất yếu của sự phát triển về công nghệ và kinh tế. Khoảng 10 năm nay, khái niệm về một nền kinh tế tri thức, và sau đó là kinh tế mở, đã trở thành xu hướng thời thượng không thể ngăn cản, không phải chỉ trong giới học thuật và chính trị, mà còn cả trên thực tế nữa.

Nhưng giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị được gì cho cuộc hội nhập lớn này? Và đặc biệt, đã chuẩn bị tâm thế để đón bắt trào lưu giáo dục mở, hầu lấp đầy lỗ hổng tri thức của mình?

Câu trả lời là gần như chưa gì cả. Trừ nỗ lực của một số cá nhân, thì Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường chưa có chuyển động gì rõ ràng.

Vậy Việt Nam cần làm gì để tận dụng những cơ hội số do sự phát triển của Internet và công nghệ truyền thông mang lại?

Theo thống kê, đến năm 2012, thế giới có 2,4 tỉ người dùng Internet, tương ứng khoảng 34% dân số thế giới. Với các nước phát triển, tỷ lệ này đang gần chạm ngưỡng 70-80%.

Theo đánh giá của Boston Consulting Group, Internet đã đóng góp 8,3% vào tổng GDP của nước Anh, và tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khoảng 11%. Còn theo báo cáo McKinsey năm 2011, theo khảo sát 13 nước (Thụy Điển, Anh, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Đức, Ấn Độ, Pháp, Canada, Trung Quốc, Ý, Brazil, Nga) thì Internet đóng góp trung bình 3,4% vào tổng GDP, trong đó thấp nhất là Nga (0,8%) và cao nhất là Thụy Điển (6,3%). Nhưng đặc biệt, 75% ảnh hưởng của Internet là đến từ các ngành truyền thống, và Internet góp phần tạo ra 21% tốc độ tăng trưởng GDP ở các nước phát triển.

Như vậy là Internet đã có sức ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Ngay cả các ngành công nghiệp truyền thống cũng được hưởng lợi to lớn từ Internet. Vậy thì không có lý do gì để ngành giáo dục đứng ngoài cuộc.

Với Việt Nam, tỷ lệ dân số dùng Internet là 35%, tương ứng với 30 triệu người dùng. Tuy chỉ ở mức trung bình của thế giới, nhưng đây cũng là một điều kiện cần để các mô hình kinh doanh dựa trên Internet thử nghiệm và phát triển, trong đó có giáo dục.

Vấn đề còn lại là những người làm giáo dục Việt Nam có dám thử nghiệm và triển khai mô hình giáo dục mới mẻ này?

Cơ hội mới

Dù MOOC vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm và tương lai của MOOC vẫn còn chưa thực sự rõ ràng, vì nó quá mới và chưa định hình, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận: lần đầu tiên, chương trình đào tạo của các đại học danh tiếng trên thế giới được mở ra cho đại chúng và tổ chức bài bản thành các khóa học. Chỉ cần có một kết nối Internet là ai cũng có thể theo học và hoàn toàn miễn phí.

Đây là những tri thức rất tiên tiến, được tổ chức bài bản và giảng dạy bởi những nhà khoa học hàng đầu trên thế giới. Những nước đi sau như Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để bù đắp vào lỗ hổng tri thức mà hàng trăm năm qua vẫn chưa được lấp đầy.

Ba năm trước, không ai có thể hình dung được mình lại có thể ngồi ở nhà, bất cứ nơi nào, để theo học những khóa học tiên tiến, và giao lưu với những chuyên gia giỏi nhất, nay nhờ MOOC, việc này trở nên rất dễ dàng, đến mức ai cũng có thể làm được. Vấn đề còn lại là người học có sẵn sàng nhập cuộc hay không mà thôi.
Có thể hình dung, trong giai đoạn này, khi phần lớn các khóa học vẫn sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính, thì biên dịch Việt hóa nội dung của các khóa này là cần thiết.

Việc này cũng tương tự như dịch sách của Nhật Bản và Hàn Quốc ngày xưa. Nhưng có ưu điểm là tri thức được truyền tải nhanh hơn, sống động hơn và đặc biệt là tránh được rào cản về bản quyền đối với việc dịch thuật.

Nếu việc truyền bá tri thức thông qua MOOC được thực hiện một cách bài bản và đến nơi đến chốn thì về dài hạn, sức tác động của nó đến sự phát triển của Việt Nam là vô cùng lớn.

Với một cá nhân, giờ đây anh ta được tự do học bất cứ thứ gì mà mình muốn, mà không bị giới hạn bởi địa lý và tài chính, vì chi phí cho việc theo học các khóa học này gần như bằng không.

Với các doanh nghiệp, nơi sử dụng trực tiếp các tri thức và kỹ năng mới, thì hình thức giáo dục này cũng mở ra những cơ hội mới.

Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt toàn cầu, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng nhân lực không ngừng. Tại các doanh nghiệp năng động nhất, các nhân viên liên tục được đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng, không chỉ chuyên môn mà còn nhiều kỹ năng phụ trợ khác nữa.

Nhưng việc bồi dưỡng thuyền xuyên này rất tốn kém, đặc biệt là với các doanh nghiệp lớn và phi tập trung. Hãy thử tưởng tượng, một doanh nghiệp có mười ngàn nhân viên làm việc rải rác ở nhiều tỉnh thành khác nhau cần bồi dưỡng kỹ năng cho các nhân viên của mình. Vậy làm sau có thể bồi dưỡng kỹ năng cho ngần ấy con người? Nếu tiến hành tại chỗ, mỗi lớp vài chục người thì quá tốn kém.

Nhưng nếu sử dụng hình thức giáo dục mới, thì việc này lại rất dễ dàng. Thay vì đến lớp, tất cả học viên sẽ theo học một khóa bồi dưỡng theo hình thức MOOC. Cả chục ngàn người có thể theo học cùng một lúc, cùng một chương trình, vào thời gian thuận lợi nhất. Bộ phận đào tạo không cần di chuyển mà chỉ tập trung vào chuẩn bị nội dung và quản trị khóa học.

Đó là cơ hội học tập lớn cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Nhưng ở quy mô quốc gia, thì đây là cơ hội để nền giáo dục đẩy nhanh tốc độ hội nhập, cập nhật nội dung chương trình thông qua việc đối chiếu và bổ khuyết các chương trình đào tạo của mình.

Sử dụng MOOC, một quốc gia có thể lấp đầy lỗ hổng kiến thức của mình rất nhanh. Nếu làm nghiêm túc thì chỉ trong vài năm là có thể tải về một lượng tri thức mà thế giới tích lũy trong hàng trăm năm.

Đây là cơ hội lớn chưa từng có. Nhưng khai thác được nó hay không, lại phụ thuộc vào nhận thức, chính sách và quyết tâm của các nhà làm chính sách, và sau đó, là lãnh đạo các doanh nghiệp liên quan, và cuối cùng là của từng cá nhân, trong công cuộc chạy đua làm chủ tri thức toàn cầu.

Đoàn tàu đã chuyển bánh, nhưng lên được tàu hay không lại phụ thuộc vào hành động của chúng ta.

Áp dụng khung năng lực ngoại ngữ 3 cấp và 6 bậc

Áp dụng khung năng lực ngoại ngữ 3 cấp và 6 bậc

IMG_0458
Bộ GD&ĐT vừa ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam làm căn cứ thống nhất về yêu cầu năng lực cho tất cả ngoại ngữ được giảng dạy trong hệ thống giáo dục.

Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (KNLNNVN) áp dụng cho các chương trình đào tạo ngoại ngữ, các cơ sở đào tạo ngoại ngữ và người học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc được áp dụng từ 16/3/2014.

 KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng Khung tham chiếu chung Châu Âu và một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc.

Cụ thể, ở bậc 1, người học có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể. Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/bạn bè v.v… Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ.

Bậc 2, người học có thể hiểu được các câu và cấu trúc được sử dụng thường xuyên liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản (như các thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm). Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hàng ngày. Có thể mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu…

Ở các bậc tiếp theo, trình độ của người học sẽ dần được nâng cao và đến bậc 6, người học có thể hiểu một cách dễ dàng hầu hết văn nói và viết. Có thể tóm tắt các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại thông tin và trình bày lại một cách logic. Có thể diễn đạt tức thì, rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được các ý nghĩa tinh tế khác nhau trong các tình huống phức tạp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, việc ban hành khung năng lực này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi giáo dục, công nhận văn bằng, chứng chỉ với các quốc gia ứng dụng Khung tham chiếu chung châu Âu.

Theo Chinhphu.vn